Mang tầm quan trọng như vậy nhưng 20% mặt hàng này trên toàn thế giới lại đang phụ thuộc vào Hormuz, một eo biển nhỏ nối vịnh Ba Tư và vịnh Oman ở Trung Đông. Khi chiến sự giữa Mỹ và Israel với Iran khiến eo biển này bị ách tắc, gây biến động an ninh năng lượng ở nhiều nơi. Khi cuộc chiến đã bước sang tuần thứ tư và chưa thấy dấu hiệu giảm leo thang, nguồn cung xăng dầu dự kiến sẽ còn bị thắt chặt.
Việt Nam không tránh khỏi biến động chung này. Trong bối cảnh đó, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 14-KL/TW ngày 20/3/2026 về bảo đảm nguồn cung, ổn định giá nhiên liệu trong tình hình mới. Kết luận này được đưa ra trong một thời điểm đặc biệt nhạy cảm và rủi ro với thị trường năng lượng toàn cầu vốn đang chịu cú sốc lớn từ xung đột tại Trung Đông.

Nội dung chính của Kết luận số 14.
Do đó, việc ban hành Kết luận (dù ngắn gọn nhưng có những chỉ đạo mang tính toàn diện, đồng bộ và quyết liệt) không chỉ có ý nghĩa điều hành trước mắt mà còn thể hiện rõ trách nhiệm, bản lĩnh, năng lực phản ứng trước những biến động phức tạp của kinh tế thế giới.
Trước hết, cần nhìn nhận rõ rằng cú sốc năng lượng lần này không đơn thuần là một đợt biến động giá thông thường theo chu kỳ, mà mang tính chất đột ngột, xuất phát từ bên ngoài và có khả năng lan rộng.
Với một nền kinh tế có độ mở lớn và vẫn phụ thuộc nhất định vào nguồn cung năng lượng nhập khẩu như Việt Nam, tác động gần như tức thì và ảnh hưởng đến tâm lý thị trường. Nếu phản ứng chậm trễ hoặc thiếu đồng bộ, nguy cơ sẽ ngày càng lớn, có thể chuyển từ biến động giá thành bất ổn kinh tế rộng hơn.
Chính trong hoàn cảnh đó, tính kịp thời của Kết luận số 14 được thể hiện rất rõ. Văn bản được ban hành đúng thời điểm, khi doanh nghiệp và người dân bắt đầu có tâm lý lo lắng. Đây là “điểm rơi” quan trọng của chỉ đạo chính sách: kịp lúc để trấn an và định hướng. Việc Bộ Chính trị nhanh chóng xem xét báo cáo của Đảng ủy Chính phủ và các cơ quan liên quan, từ đó đưa ra kết luận kịp thời cho thấy sự chủ động bám sát thực tiễn, không bị động chờ đợi. Đây chính là biểu hiện cụ thể của tư duy điều hành linh hoạt, phản ứng nhanh, phù hợp với bối cảnh kinh tế toàn cầu biến động nhanh và khó lường.

Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì cuộc họp Thường trực Chính phủ về bình ổn giá xăng dầu chiều 21/3/2026. Ảnh: Dương Giang/TTXVN
Không chỉ kịp thời, Kết luận số 14 còn cho thấy tính quyết liệt rõ nét trong nội dung chỉ đạo. Điểm nổi bật đầu tiên là yêu cầu “khẩn trương lãnh đạo, chỉ đạo” được đặt ra ngay từ đầu, thể hiện rõ tinh thần không chậm trễ, không để khoảng trống trong điều hành. Bộ Chính trị không dừng ở việc nêu định hướng chung mà yêu cầu các cơ quan phải bám sát, dự báo tình hình, diễn biến cung cầu và giá cả xăng dầu thế giới để chủ động, xây dựng kịch bản ứng phó hiệu quả. Điều này cho thấy tư duy chủ động, dự báo và chuẩn bị trước các phương án, thay vì xử lý bị động khi tình huống đã xảy ra.
Tính quyết liệt còn thể hiện ở việc huy động đồng thời nhiều công cụ chính sách, từ tài khóa, tiền tệ đến quản lý giá và thương mại. Việc cho phép xem xét sử dụng ngay các công cụ này cho thấy mức độ can thiệp mạnh mẽ và linh hoạt nhằm giảm áp lực chi phí cho doanh nghiệp và người dân. Chỉ đạo về “kết hợp tăng cường các biện pháp thanh tra, kiểm tra, siết chặt quản lý chống buôn lậu, quản lý chặt chẽ các đầu mối, thương nhân; xử lý nghiêm tình trạng găm hàng trục lợi, gian lận thương mại” cũng cho thấy rõ tính quyết liệt trong quản lý thị trường khi không chỉ dừng ở điều hành vĩ mô mà đi thẳng vào các khâu dễ phát sinh vấn đề như đầu mối phân phối, thương nhân. Việc nhấn mạnh thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm hành vi găm hàng, gian lận thương mại cho thấy quyết tâm kiểm soát chặt chẽ các hành vi làm méo mó thị trường, qua đó bảo đảm nguồn cung và ổn định giá xăng dầu trong bối cảnh nhạy cảm.
Bên cạnh các giải pháp ngắn hạn như trên, Kết luận số 14 còn đặt ra yêu cầu sớm xây dựng chiến lược quốc gia về cung ứng và dự trữ nguyên liệu, nhiên liệu trong dài hạn. Đây là nội dung mang tính chiến lược, cho thấy Bộ Chính trị không chỉ tập trung vào tình hình hiện tại và trong ngắn hạn mà còn hướng tới giải quyết căn cơ những điểm yếu cố hữu của hệ thống năng lượng. Thực tế cho thấy, một trong những điểm nghẽn lớn của Việt Nam là năng lực dự trữ còn hạn chế và mức độ phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài còn tương đối cao. Theo các chuyên gia, vấn đề này đã được đặt ra từ lâu nhưng đến nay vẫn chưa thực hiện được vì bài toán lợi nhuận đầu tư. Nhưng qua cú sốc lần này, việc nhấn mạnh lại vấn đề xây dựng chiến lược dài hạn chính là bước đi cần thiết để nâng cao khả năng chống chịu trước các cú sốc tương tự trong tương lai.
Không chỉ kịp thời và quyết liệt, Kết luận số 14 còn phản ánh rõ vai trò và nỗ lực của chính phủ cùng các bộ, ngành trong việc bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Việc giao nhiệm vụ cụ thể cho Đảng ủy các bộ Ngoại giao, Công Thương, Tài chính chủ động trao đổi với các đối tác nước ngoài nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nước tiếp cận nguồn nguyên, nhiên liệu cho thấy sự phối hợp liên ngành chặt chẽ.

Các cửa hàng bán lẻ xăng dầu của Petrolimex luôn cung ứng đủ cho nhu cầu của người dân. Ảnh: Trần Việt - TTXVN
Một điểm đáng chú ý khác là Kết luận số 14 chú trọng vào yếu tố tâm lý thị trường. Trong bối cảnh khủng hoảng năng lượng, tâm lý thị trường thường đóng vai trò rất lớn, có thể làm trầm trọng thêm biến động giá nếu không được kiểm soát. Việc giao Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương chỉ đạo công tác thông tin, truyền thông nhằm bảo đảm ổn định tâm lý thị trường cho thấy cách tiếp cận toàn diện, không chỉ nhìn vào các biến số kinh tế thuần túy mà còn tính đến yếu tố xã hội. Đây là một điểm nhấn quan trọng, bởi trong nhiều trường hợp, khủng hoảng không chỉ xảy ra do khan hiếm hàng hóa vật chất mà còn do lan truyền tâm lý bất ổn. Khi đó, hệ thống báo chí chính thống có vai trò quan trọng trong ngăn chặn tin đồn thất thiệt, tin giả liên quan giá xăng dầu, nhanh chóng trấn an thị trường.
Thực tiễn thời gian qua cho thấy chính phủ đã có nhiều nỗ lực trong điều hành giá xăng dầu, sử dụng linh hoạt các công cụ như quỹ bình ổn, điều chỉnh thuế phí, bảo đảm nguồn cung không bị gián đoạn. Kết luận số 14 có thể xem là sự tiếp nối và nâng tầm những nỗ lực đó, khi đưa ra một khuôn khổ chỉ đạo mang tính tổng thể, đồng bộ và có định hướng dài hạn. Kích hoạt cả hệ thống chính trị chính là yếu tố then chốt để bảo đảm hiệu quả thực thi.

Khuyến khích tiết kiệm trong tiêu dùng để bảo đảm ổn định nguồn cung, giảm thiểu biến động tăng giá nguyên liệu, nhiên liệu trong nước. Ảnh minh họa: TTXVN
Để thực hiện Kết luận này, không thể thiếu vai trò của doanh nghiệp, các tổ chức, người dân... Đối với các doanh nghiệp, cần chủ động tiết kiệm năng lượng trong toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh. Các chuyên gia khuyến cáo điều cần làm ngay là rà soát, tối ưu hóa quy trình vận hành, giảm tiêu hao và hạn chế lãng phí nhiên liệu. Đồng thời, về lâu dài, doanh nghiệp cần chủ động xây dựng chiến lược ứng phó với nguồn cung năng lượng khi biến động để đảm bảo sản xuất, kinh doanh; hướng tới tăng cường đầu tư công nghệ, dùng thiết bị tiết kiệm năng lượng và xây dựng kế hoạch sử dụng hợp lý theo nhu cầu thực tế.
Tại các tổ chức và cơ quan trong mọi lĩnh vực, nâng cao ý thức tiết kiệm năng lượng trong đội ngũ cán bộ, nhân viên cũng góp phần giảm chi phí và bảo đảm hiệu quả bền vững. Tại mỗi văn phòng, chỉ cần tắt các thiết bị điện khi không sử dụng là đã góp phần giảm tiêu thụ năng lượng.
Còn với người dân, đóng góp thiết thực nhất vào tiết kiệm năng lượng chính là thông qua những hành động cụ thể trong đời sống hằng ngày: hạn chế sử dụng phương tiện cá nhân khi không cần thiết, ưu tiên đi chung xe hoặc sử dụng phương tiện công cộng...
Phải có ý thức và hành động cụ thể như vậy thì mới có thể thực hiện thành công các chỉ đạo trong Kết luận số 14.
Email:
Mã xác nhận: