Nhân kỷ niệm 81 năm Quốc khánh 2/9 và dấu mốc 40 năm Đổi mới, Tiến sĩ Trần Văn, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính-Ngân sách của Quốc hội, nay là Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội đã trao đổi với phóng viên Báo Nhân Dân về những động lực làm nên bước phát triển của nền kinh tế Việt Nam, yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng và giải pháp khơi thông các nguồn lực để hiện thực hóa mục tiêu xây dựng đất nước phát triển, tự chủ và thịnh vượng.
Đổi mới để khơi dậy nguồn lực to lớn từ xã hội
Phóng viên: Nhìn lại chặng đường 40 năm Đổi mới, theo ông, đâu là những thay đổi có ý nghĩa quyết định, tạo nên bước phát triển vượt bậc của nền kinh tế Việt Nam?
Tiến sĩ Trần Văn: Thành quả của tổng hòa nhiều yếu tố sau 40 năm Đổi mới đã mang lại bước nhảy vọt về quy mô của nền kinh tế nước ta. Có nhiều cách luận giải, nhưng theo tôi, bốn thay đổi căn bản sau đây mang tính quyết định và tạo lực đột phá mạnh mẽ nhất.
Đầu tiên là đổi mới tư duy và xác lập thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong đó, bước ngoặt quan trọng nhất là việc dứt khoát bỏ cơ chế kế hoạch hóa tập trung để chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo quy luật thị trường nhằm giải phóng sức sản xuất; công nhận quyền sở hữu tư nhân và quyền tự do kinh doanh, qua đó khơi dậy nguồn lực to lớn từ xã hội.
Thứ hai là chiến lược chủ động mở cửa và hội nhập quốc tế, trở thành “đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”. Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và ký kết hàng loạt hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như: CPTPP, EVFTA, RCEP; trở thành điểm đến hấp dẫn của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài toàn cầu và từng bước tham gia sâu vào chuỗi cung ứng thế giới.
Thứ ba là việc luôn giữ vững ổn định chính trị-xã hội và nhất quán trong điều hành kinh tế vĩ mô; duy trì kiểm soát lạm phát, ổn định các cân đối lớn và kiên cường vượt qua các cú sốc kinh tế toàn cầu là nền tảng cốt lõi để tạo dựng niềm tin cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Thứ tư là từ Đại hội XI, tháng 1/2011, ba đột phá chiến lược (thể chế, hạ tầng và nguồn nhân lực) được Việt Nam kiên trì thực hiện thường xuyên và liên tục qua nhiều kế hoạch 5 năm. Nhờ đó, hệ thống pháp luật kinh tế từng bước được hoàn thiện; mạng lưới giao thông huyết mạch, hạ tầng năng lượng và hạ tầng số tạo ra những không gian phát triển mới. Cơ cấu lao động chuyển dịch từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, kết hợp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu của kinh tế số và kinh tế tri thức.
Kết quả 40 năm qua là minh chứng rõ nét cho tinh thần dám nhìn thẳng vào sự thật, đổi mới sáng tạo và kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Đây chính là bệ phóng vững chắc để Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới, với kỳ vọng đạt tốc độ tăng trưởng bình quân hai con số trong thời gian tới.
Phóng viên: Để hiện thực hóa mục tiêu chính trị đã đề ra, đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, mô hình tăng trưởng của Việt Nam cần chuyển đổi theo hướng nào, thưa ông?
Tiến sĩ Trần Văn: Tôi cho rằng việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo tinh thần Nghị quyết số 19-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương là yêu cầu mang tính sống còn. Cụ thể, theo tinh thần Nghị quyết quan trọng này của Đảng, mô hình tăng trưởng mới hướng tới chuyển dịch động lực tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu, dựa trên khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo. Tăng trưởng phải dựa chủ yếu vào nâng cao năng suất lao động, ứng dụng khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số toàn diện.
Cùng với đó, nâng cao tỷ trọng đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp vào tăng trưởng kinh tế, đưa công nghệ và tri thức trở thành nguồn lực sản xuất hàng đầu; thực hiện đột phá chuyển đổi kép về kinh tế số và kinh tế xanh để tạo không gian tăng trưởng mới, nâng cao khả năng tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.
Đặc biệt, Nghị quyết yêu cầu cơ cấu lại nền kinh tế gắn với nâng cao tính tự chủ và giá trị gia tăng nội địa; phát triển mạnh mẽ khu vực kinh tế tư nhân trong nước, hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân quy mô lớn, có năng lực dẫn dắt chuỗi giá trị và vươn ra quốc tế nhờ các chính sách hỗ trợ và những đột phá về thể chế. Đồng thời, cần củng cố tính bền vững, bao trùm và năng lực chống chịu trước các cú sốc bên ngoài thông qua đa dạng hóa thị trường và chuỗi cung ứng, bảo đảm an ninh toàn diện, gắn phát triển kinh tế với tiến bộ xã hội.
Như vậy, mô hình tăng trưởng trong giai đoạn tới phải dựa trên năng suất, được dẫn dắt bởi đổi mới sáng tạo, chuyển đổi kép và tự chủ chiến lược; hướng tới hình thành nhiều thương hiệu công nghệ toàn cầu mang tên Việt Nam. Muốn làm được điều đó, cần có một Nhà nước kiến tạo và đồng hành, dám trao niềm tin, dám giao nhiệm vụ lớn và tạo lập môi trường kinh doanh minh bạch, an toàn để doanh nhân Việt Nam tự tin đổi mới, sáng tạo và cống hiến.
Đây chính là chìa khóa để Việt Nam vừa duy trì tốc độ tăng trưởng cao, vừa vững vàng trước mọi biến động toàn cầu.
Kiến tạo tăng trưởng nhanh, bền vững
Phóng viên: Từ thực tiễn hoạt động giám sát và quyết định những vấn đề quan trọng trong lĩnh vực tài chính công, ngân sách nhà nước, ông nhận diện những điểm nghẽn nào đang cản trở việc huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực phát triển?
Tiến sĩ Trần Văn: Thực tế cho thấy nguồn lực phát triển của đất nước còn đối mặt nhiều điểm nghẽn nên chưa phát huy được hết tiềm năng vốn có. Cụ thể như: vốn đầu tư công vẫn mang tính bình quân, dàn trải; công tác chuẩn bị dự án chưa thật sự kỹ, dẫn đến tình trạng “vốn chờ dự án”. Công tác giải phóng mặt bằng, định giá đất và quy hoạch chậm trễ là những rào cản lớn khiến dòng vốn công chưa thể kích hoạt tối đa dòng vốn đối ứng từ xã hội...
Đặc biệt, hệ thống pháp luật điều chỉnh các nguồn lực phát triển còn chồng chéo, phân tán. Hiện nay, Quốc hội đang tích cực sửa đổi, bổ sung theo tinh thần chỉ quy định trong luật những vấn đề thuộc thẩm quyền. Đồng thời tăng quyền chủ động, linh hoạt cho Chính phủ và chính quyền địa phương thông qua các văn bản dưới luật.
Tại Kỳ họp Không thường lệ lần thứ nhất Quốc hội khóa XVI vừa diễn ra trong tháng 8 vừa qua, Quốc hội đã yêu cầu tập trung hơn nữa cho các dự án hạ tầng chiến lược quốc gia; cho phép triển khai công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thành dự án độc lập trước khi phê duyệt dự án đầu tư xây dựng, giúp rút ngắn thời gian chuẩn bị thực địa.
Mặt khác, cơ chế đối tác công-tư (PPP) sau một thời gian triển khai vẫn chưa thu hút mạnh dòng vốn tư nhân do thiếu cơ chế chia sẻ rủi ro công bằng giữa Nhà nước và nhà đầu tư, nên nguồn lực xã hội chưa thật sự được khơi thông và đa dạng hóa. Trong khi đó, thị trường vốn, gồm thị trường trái phiếu doanh nghiệp và thị trường cổ phiếu, chưa phát triển đủ chiều sâu để chia sẻ gánh nặng cung ứng vốn trung và dài hạn với hệ thống ngân hàng.
Dự án Luật Ngân sách nhà nước hợp nhất với Luật Đầu tư công cũng đã chính thức được trình Quốc hội xem xét và thảo luận tại Kỳ họp Không thường lệ lần thứ nhất Quốc hội khóa XVI để thiết kế chính sách tài khóa chủ động, bền vững, mở rộng có trọng tâm; tận dụng dư địa an toàn của nợ công và thâm hụt ngân sách; tối ưu hóa chi thường xuyên để nâng tỷ trọng chi đầu tư phát triển trong tổng chi ngân sách nhà nước, ưu tiên nguồn lực cho các dự án hạ tầng nền tảng có sức lan tỏa kinh tế cao và thời gian hoàn vốn xã hội ngắn.
Quốc hội luôn nghiêm khắc yêu cầu quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra, đo lường chính xác giá trị gia tăng kinh tế mà từng đồng vốn ngân sách tạo ra. Thước đo thành công của chính sách tài khóa do Quốc hội hoạch định và Chính phủ thực thi trong giai đoạn mới không chỉ nằm ở việc thu đủ, chi đúng quy định, mà quan trọng hơn là tốc độ giải phóng các nguồn lực và hiệu quả kích hoạt các dòng vốn của toàn xã hội để kiến tạo tăng trưởng nhanh, bền vững.
Phóng viên: Đất nước đã trải qua 40 năm kiên trì thực hiện công cuộc Đổi mới, ông kỳ vọng như thế nào về vị thế của Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới? Làm thế nào để thành quả tăng trưởng được chuyển hóa rõ nét thành sức mạnh của doanh nghiệp Việt Nam và cuộc sống tốt đẹp hơn cho người dân, thưa ông?
Tiến sĩ Trần Văn: Kỷ niệm 81 năm Quốc khánh 2/9 và dấu mốc 40 năm Đổi mới là thời điểm mang ý nghĩa lịch sử sâu sắc để chúng ta không chỉ tự hào về chặng đường đã qua, mà quan trọng hơn là định hình tầm nhìn cho một giai đoạn vươn mình mạnh mẽ của dân tộc.
Kỳ vọng lớn nhất là xác lập vững chắc vị thế một quốc gia độc lập, tự chủ về kinh tế, phát triển xanh và số; trở thành mắt xích không thể thay thế trong chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng toàn cầu. Đó là một Việt Nam có tiếng nói và uy tín cao trên trường quốc tế, luôn là đối tác tin cậy, thành viên chủ động kiến tạo hòa bình và thịnh vượng cho khu vực.
Tuy nhiên, dù quy mô nền kinh tế trong tương lai có đạt đến những con số ấn tượng hơn nữa thì đó vẫn chỉ là một chỉ số lượng hóa. Thước đo bản chất của sự phát triển phải nằm ở việc dòng giá trị ấy được chuyển hóa vào từng tế bào của nền kinh tế và đời sống người dân.
Đảng ta đã yêu cầu hiện thực hóa mục tiêu này qua ba trụ cột quan trọng.
Trước hết, nền kinh tế phải dứt khoát chuyển mô hình phát triển sang chiều sâu, dựa trên khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi kép số - xanh. Có như vậy mới có thể kỳ vọng nâng cao năng suất lao động. Để tăng trưởng chuyển hóa thành sức mạnh thực chất của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, trọng tâm chính sách phải hướng vào xây dựng năng lực tự chủ về công nghệ và phát triển chuỗi giá trị nội địa.
Một nền kinh tế mạnh phải có những doanh nghiệp nội địa mạnh làm rường cột. Do đó, cần tạo lập môi trường pháp lý minh bạch, bình đẳng; dỡ bỏ mọi rào cản và chi phí không chính thức để nuôi dưỡng các tập đoàn kinh tế tư nhân đầu đàn, có năng lực dẫn dắt chuỗi cung ứng và vươn tầm thế giới. Đồng thời, cần có cơ chế liên kết thực chất để doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia sâu vào mạng lưới sản xuất của các tập đoàn đa quốc gia.
Cuối cùng và quan trọng nhất, để tăng trưởng chuyển hóa thành đời sống ấm no, hạnh phúc của người dân, phát triển kinh tế phải luôn song hành với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường.
Tăng trưởng thực chất phải được cảm nhận qua mức thu nhập khả dụng và sức mua của người dân tăng lên, đi cùng mạng lưới an sinh xã hội bao trùm, hiện đại. Người dân phải được thụ hưởng dịch vụ y tế, giáo dục có chất lượng tốt hơn; không gian sống trong lành, an toàn hơn và cơ hội tiếp cận việc làm bền vững được chia sẻ bình đẳng giữa các vùng, miền.
Mục tiêu tối thượng của mọi chủ trương phát triển không nằm ở những bảng thống kê kinh tế thuần túy, mà ở sự hài lòng, niềm tin và chất lượng sống ngày càng được nâng cao của mỗi người dân Việt Nam.
Mục tiêu tối thượng của mọi chủ trương phát triển không nằm ở những bảng thống kê kinh tế thuần túy, mà ở sự hài lòng, niềm tin và chất lượng sống ngày càng được nâng cao của mỗi người dân Việt Nam.
Nhìn lại chặng đường 40 năm Đổi mới và lịch sử 81 năm Độc lập, bài học lớn nhất mà chúng ta đúc kết được chính là bài học về niềm tin, sự đổi mới không ngừng và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.
Đất nước đang đứng trước cánh cửa của một giai đoạn phát triển vượt bậc, bứt phá mới. Với nền tảng vĩ mô vững chắc đã tích lũy, tư duy thể chế ngày càng kiến tạo, cùng khát vọng cháy bỏng của cộng đồng doanh nghiệp và hơn 100 triệu người dân, Việt Nam hoàn toàn có đủ bản lĩnh, nguồn lực và sự tự tin để kiến tạo một quốc gia hùng cường, thịnh vượng, nơi mỗi bước tăng trưởng kinh tế đều hòa nhịp cùng hạnh phúc và phẩm giá của con người.
Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn ông!
Email:
Mã xác nhận: