Từ bản nhạc của Cao Văn Lầu đến sân khấu cải lương


Cố soạn giả Nguyễn Trọng Quyền là người đầu tiên đưa "Dạ cổ hoài lang" lên sân khấu
Hành trình đưa "Dạ cổ hoài lang" từ một bản nhạc giàu tính tự sự trở thành bài bản giữ vị trí quan trọng trên sân khấu cải lương gắn với nhiều thế hệ nghệ sĩ. Người đầu tiên đưa tác phẩm này lên sân khấu được ghi nhận là cố soạn giả Nguyễn Trọng Quyền, trong vở "Bội phu quả báo" vào năm 1923, với bản 20 câu.
Cố soạn giả Nguyễn Trọng Quyền là một trong những nghệ sĩ sớm nhận ra khả năng tạo kịch tính của "Dạ cổ hoài lang". Trong vở diễn, nhân vật Lý Ngọc Thơ ca bản nhạc ở một trong những lớp kịch quyết liệt và giàu cảm xúc nhất. Từ sân khấu, "Dạ cổ hoài lang" ngày càng được khán giả biết đến và dần thay thế "Tứ đại oán" ở vị trí chủ chốt trong nhiều lớp diễn cải lương.


Cố nhạc sĩ Tấn Nhì (trái), cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu (phải)
Theo nhạc sĩ Tấn Nhì, sức sống lâu bền của "Dạ cổ hoài lang" trước hết đến từ chính quá trình hình thành độc đáo của bản nhạc. Nhạc sĩ Cao Văn Lầu đã kết hợp tâm trạng và hoàn cảnh gia đình với chất liệu từ những bài bản quen thuộc đương thời như "Hành vân" và "Tứ đại cảnh" để tạo nên tác phẩm.
Nhạc sĩ Tấn Nhì cho biết thêm, phần lời cũng góp phần quan trọng tạo nên sức lay động của "Dạ cổ hoài lang". Cao Văn Lầu sử dụng lối văn biền ngẫu giàu cảm xúc, gợi liên tưởng đến "Chức Cẩm hồi văn" của tài nữ Tô Huệ - một trong những tác phẩm nổi tiếng trong văn học Trung Quốc - để kể câu chuyện về nỗi nhớ thương, cảnh vợ chồng chia cách.
Từ hai nhịp đến những bước phát triển của vọng cổ


Bản "Dạ cổ hoài lang" được nhiều thế hệ nhạc sư, nhạc sĩ, soạn giả... sáng tạo và nới thêm nhịp để tác phẩm thể hiện được những tình cảm phức tạp, những tình huống đa dạng hơn
Khi "Dạ cổ hoài lang" ngày càng phổ biến trên sân khấu, cấu trúc ban đầu với hai nhịp trong một câu dần bộc lộ giới hạn. Những tình huống sân khấu phức tạp hơn, cùng nhu cầu thể hiện nhiều cung bậc cảm xúc, đòi hỏi người nghệ sĩ phải có thêm không gian để phát triển câu ca.
Từ đó, quá trình nới nhịp "Dạ cổ hoài lang" bắt đầu hình thành và được nhiều thế hệ nghệ sĩ tiếp tục sáng tạo. Từ nhịp tư, nhịp tám đến nhịp 16..., bản nhạc ngày càng có khả năng thích ứng với nhiều hoàn cảnh biểu diễn, đồng thời phát huy tinh thần sáng tạo, phóng khoáng của đờn ca tài tử. Đây không chỉ là sự thay đổi về cấu trúc âm nhạc mà còn là quá trình sáng tạo mang tính tập thể. Nhiều nghệ sĩ qua các thời kỳ đã góp phần hoàn thiện, phát triển bản dạ cổ để tác phẩm có thể đáp ứng tốt hơn yêu cầu của sân khấu cải lương.


Cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu khẳng định: "Bản vọng cổ ngày nay là đứa con chung của quý vị"
Ngày 18/11/1963, nhạc sĩ Cao Văn Lầu từng bày tỏ sự trân trọng và cảm ơn đối với những người đã yêu quý, gìn giữ và tiếp tục hoàn thiện "Dạ cổ hoài lang". Qua thời gian, từ một bản nhạc chất chứa nỗi niềm riêng, tác phẩm đã vượt khỏi giới hạn của câu chuyện ban đầu để trở thành một phần quan trọng của lịch sử cải lương Nam Bộ.
Hành trình từ "Dạ cổ hoài lang" đến vọng cổ vì thế không chỉ là câu chuyện về sự thay đổi của một bài bản. Đó còn là minh chứng cho sức sống của nghệ thuật truyền thống: được trao truyền nhưng không ngừng sáng tạo, để mỗi thế hệ nghệ sĩ có thể tiếp tục làm giàu cho những giá trị đã được vun đắp từ hơn một thế kỷ trước.
Email:
Mã xác nhận: