Việt Nam bước vào nửa cuối năm 2026 với một trong những bức tranh kinh tế vĩ mô hấp dẫn nhất châu Á và đang chuyển mình từ quốc gia hưởng lợi từ sự dịch chuyển chuỗi cung ứng thành một trong những nền tảng tăng trưởng cấu trúc hấp dẫn nhất khu vực về đầu tư.
Đó là đánh giá của nhà kinh tế trưởng Shan Saeed thuộc tập đoàn công nghệ bất động sản IQI Global chi nhánh Malaysia trong trao đổi với phóng viên TTXVN.
Chuyên gia Shan Saeed cho rằng tăng trưởng GDP thực tế của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2026 đạt 8,18%, tăng so với 7,63% cùng kỳ năm 2025; tăng trưởng tăng tốc từ mức điều chỉnh 7,94% trong quý 1 lên 8,39% trong quý 2 cho thấy đà tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ. Đặc biệt, cơ cấu tăng trưởng cho thấy sự chuyển đổi cấu trúc.
Giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 tăng 9,86% so với cùng kỳ năm trước, dịch vụ tăng 8,09% và công nghiệp chế biến, chế tạo-nền tảng của mô hình tăng trưởng dựa vào xuất khẩu và đầu tư của Việt Nam-tăng 10,23%.
Nền kinh tế đang vượt ra khỏi tình trạng lợi thế cạnh tranh chủ yếu dựa vào chi phí lao động. Việt Nam đang vươn lên trong chuỗi giá trị khu vực thông qua sự phức tạp hóa công nghiệp ngày càng tăng, cường độ sử dụng vốn cao hơn và hội nhập sâu hơn vào các mạng lưới sản xuất điện tử, máy móc, linh kiện và công nghệ.
Chuyên gia Shan Saeed đánh giá thương mại hàng hóa của Việt Nam đang củng cố xu hướng đầu tư. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu trong nửa đầu năm 2026 đạt khoảng 549,69 tỷ USD, tăng 27,1% so với cùng kỳ năm 2025. Xuất khẩu tăng 21% lên 266,52 tỷ USD, trong khi nhập khẩu tăng 33,4% lên 283,17 tỷ USD. Phần lớn sự gia tăng nhập khẩu phản ánh việc mua máy móc, thiết bị sản xuất, linh kiện, nguyên vật liệu và đầu vào trung gian.
Điều này cho thấy sự mở rộng công nghiệp, tái cấu trúc hàng tồn kho và đầu tư vào chuỗi cung ứng hơn là chu kỳ nhập khẩu quá mức do tiêu dùng. Tuy nhiên, chuyên gia Shan Saeed lưu ý, thâm hụt thương mại kéo dài làm tăng nhu cầu ngoại tệ và đặt trọng tâm lớn hơn vào thu nhập xuất khẩu, dòng vốn bền vững và quản lý tỷ giá hối đoái có kỷ luật. Do đó, nhập khẩu hiện nay có thể củng cố nền tảng sản xuất trong tương lai nhưng cũng làm tăng nhu cầu tài chính từ bên ngoài của nền kinh tế trong giai đoạn đầu tư.
Chuyên gia Shan Saeed nhận định đầu tư nước ngoài mang đến tín hiệu mạnh mẽ khác về sự tự tin cho Việt Nam. Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký đạt 34,65 tỷ USD vào cuối tháng 6/2026, tăng 61% so với cùng kỳ năm 2025. FDI thực hiện tăng 11,2% lên 13,03 tỷ USD, thể hiện hiệu suất nửa đầu năm mạnh nhất kể từ năm 2022.
Theo ông, vốn toàn cầu không chỉ phản ứng với tốc độ tăng trưởng hiện tại của Việt Nam. Các nhà đầu tư đang định vị trước chu kỳ công nghiệp tiếp theo của Việt Nam. Điện tử, chất bán dẫn, sản xuất tiên tiến, logistics, cơ sở hạ tầng và năng lượng sạch đang nổi lên như những kênh chính để chuyển đổi cam kết đầu tư nước ngoài thành năng lực kinh tế dài hạn.
Chuyên gia Shan Saeed lưu ý, sự khác biệt giữa đầu tư đăng ký và đầu tư thực tế vẫn mang tính quyết định, vì cam kết thể hiện sự tự tin trong khi giải ngân tạo ra nhà máy, cơ sở hạ tầng, việc làm, xuất khẩu và sản lượng hoạt động. Khả năng đẩy nhanh quá trình chuyển đổi này của Việt Nam sẽ là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định hiệu quả hoạt động nửa cuối năm.
Về lạm phát, chuyên gia Shan Saeed cho rằng tình hình lạm phát của nền kinh tế Việt Nam đã được cải thiện trong tháng 6/2026. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Việt Nam trong tháng 6/2026 giảm 0,39% so với tháng 5/2026, và tăng 4,69% so với cùng kỳ năm 2025. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân nửa đầu năm 2026 của Việt Nam là 4,38%, với lạm phát cơ bản tăng 4,12% so với cùng kỳ năm 2025. Việc giảm thiểu lạm phát chỉ mang lại sự hỗ trợ chính sách hạn chế, không phải là không gian tiền tệ rộng lớn.
Chuyên gia Shan Saeed lưu ý, với cả lạm phát chung và lạm phát lõi đều trên 4%, Việt Nam cần cân bằng giữa hỗ trợ tín dụng với sự ổn định tiền tệ, khả năng phục hồi của hệ thống tài chính và nguy cơ áp lực giá cả tái diễn. Điều kiện tiền tệ có thể vẫn hỗ trợ tăng trưởng, nhưng việc nới lỏng tiền tệ không theo kế hoạch đề ra sẽ dẫn đến chi phí tài chính vĩ mô ngày càng tăng. Do đó, sự kết hợp chính sách tối ưu sẽ đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa quản lý tín dụng, giải ngân ngân sách, thực hiện cơ sở hạ tầng và ổn định tỷ giá hối đoái.
Đối với việc Việt Nam được Ngân hàng Thế giới (WB) nâng hạng lên nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình cao sau nhiều năm duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, chuyên gia Shan Saeed cho rằng tầm quan trọng chiến lược của cột mốc này rất lớn - phản ánh quá trình dài hơn về công nghiệp hóa, mở rộng xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài và hội nhập vào mạng lưới sản xuất toàn cầu.
Sự kiện này cũng đánh dấu sự chuyển đổi trong mô hình phát triển của Việt Nam-từ nền kinh tế cạnh tranh chủ yếu về giá cả sang nền kinh tế ngày càng được định hình bởi năng suất, công nghệ, cơ sở hạ tầng và thực thi thể chế. Chuyên gia Shan Saeed nhấn mạnh, giai đoạn tiếp theo sẽ đòi hỏi nhiều hơn. Khi thu nhập tăng lên,
Việt Nam cần tạo ra những bước tiến năng suất mạnh mẽ hơn, cải thiện phân bổ vốn, nâng cao năng lực lực lượng lao động và tạo ra nhiều giá trị nội địa hơn trong các chuỗi cung ứng hội nhập quốc tế.
Chuyên gia Shan Saeed dự báo cơ bản đặt tăng trưởng GDP thực tế cả năm 2026 của Việt Nam ở mức 8,7%-9,0%. Kết quả tăng trưởng GDP gần 9,4% vẫn có thể xảy ra nhưng nên được coi là kịch bản thực hiện xuất sắc hơn là kịch bản trung tâm.
Với tăng trưởng GDP thực tế trong nửa đầu năm 2026 của Việt Nam ở mức 8,18%, ngay cả việc đạt được mức thấp nhất của dự báo trên cũng đòi hỏi sự tăng tốc đáng kể trong phần còn lại của năm.
Theo giả định trọng số bằng nhau đơn giản: Tăng trưởng cả năm 2026 8,7% sẽ đòi hỏi mức tăng trưởng nửa cuối năm 2026 vào khoảng 9,2%; Tăng trưởng cả năm 9,0% sẽ đòi hỏi mức tăng trưởng trong nửa cuối năm 2026 vào khoảng 9,8%; Tăng trưởng cả năm 9,4% sẽ đòi hỏi mức tăng trưởng trong nửa cuối năm 2026 vào khoảng 10,6%. Những tính toán này cho thấy quy mô tăng tốc cần thiết.
Mức tăng trưởng cốt lõi 8,7%-9,0% giả định sản xuất của các doanh nghiệp nhà nước tiếp tục mạnh mẽ, đơn đặt hàng xuất khẩu ổn định, thực hiện đầu tư công nhanh hơn và nhu cầu nội địa vững chắc, bù đắp một phần bởi những hạn chế về lạm phát và điều kiện yếu hơn ở một số khu vực của nền kinh tế toàn cầu. Tăng trưởng khoảng 9% sẽ đòi hỏi việc xây dựng cơ sở hạ tầng hiệu quả hơn, mở rộng công nghiệp bền vững và chuyển đổi nhanh hơn các khoản đầu tư nước ngoài đã được phê duyệt thành tài sản hoạt động.
Kết quả tăng trưởng GDP gần 9,4% sẽ đòi hỏi một số điều kiện thuận lợi cùng hội tụ: giải ngân đầu tư công mạnh mẽ hơn, hiện thực hóa đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) nhanh hơn, chi phí năng lượng được kiểm soát, tiêu dùng hộ gia đình ổn định và môi trường cầu bên ngoài hỗ trợ. Đây là dự báo phụ thuộc vào việc thực hiện, dựa trên khả năng tăng trưởng nhanh hơn của hoạt động sản xuất, cơ sở hạ tầng và đầu tư trong nửa cuối năm.
Những rủi ro quan trọng gồm: Thứ nhất, nền kinh tế mở đặc biệt của Việt Nam vẫn dễ bị ảnh hưởng bởi nhu cầu toàn cầu yếu hơn, sự phân mảnh chính sách thương mại, biến động tiền tệ và cú sốc giá năng lượng.
Thứ hai, việc cho vay và đầu tư mạnh mẽ có thể mở rộng năng lực sản xuất, nhưng việc phân bổ vốn chưa đạt hiệu quả cao như dự kiến có thể tạo ra đòn bẩy quá mức, làm méo mó thị trường bất động sản và làm suy giảm chất lượng tài sản của hệ thống ngân hàng. Do vậy, việc mở rộng tín dụng nhanh chóng đòi hỏi sự giám sát cẩn thận.
Thứ ba, cơ cấu đầu tư mạnh mẽ mang tính xây dựng nhưng thâm hụt cán cân vãng lai kéo dài làm tăng sự phụ thuộc vào giải ngân FDI bền vững và thu kiều hối, đồng thời làm tăng tính nhạy cảm đối với các dòng vốn đầu tư mạo hiểm dễ biến động hơn và điều kiện tỷ giá hối đoái.
Thứ tư, lạm phát trung bình nửa đầu năm 2026 ở mức 4,38% cho thấy ít dư địa cho các biện pháp kích thích mạnh mẽ. Do đó, việc thực hiện sẽ quan trọng không kém động lực. Chất lượng đầu tư công, tốc độ xây dựng cơ sở hạ tầng, khả năng phục hồi của hệ thống ngân hàng và việc chuyển đổi các cam kết vốn thành tài sản sản xuất sẽ quyết định Việt Nam có đạt được phạm vi cốt lõi - hay tiến gần đến mức cao nhất-của dự báo hay không.
Việt Nam bước vào năm 2026 sau khi tăng trưởng GDP 8,02% trong năm 2025, một trong những thành tích tăng trưởng hàng năm mạnh nhất trong hơn một thập kỷ. Số liệu nửa đầu năm 2026 khẳng định nền kinh tế đang mở rộng trên các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ, đầu tư, xuất khẩu và nhu cầu nội địa.
Sự tăng trưởng này ngày càng giống với sự tái cấu trúc bền vững năng lực sản xuất hơn là sự tăng trưởng tạm thời. Triển vọng đầu tư dài hạn của Việt Nam ngày càng hấp dẫn. Hệ sinh thái công nghiệp đang phát triển sâu rộng. Quá trình hình thành vốn đang tăng tốc. Đầu tư nước ngoài đang đổ vào các phân khúc sản xuất chuyên sâu hơn. Cơ sở hạ tầng ngày càng trở nên quan trọng đối với mô hình tăng trưởng, trong khi vai trò của đất nước trong chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu tiếp tục mở rộng.
Đồng thời, mức tăng trưởng GDP cả năm 2026 8,7%-9,0% sẽ đòi hỏi nửa cuối năm phải tăng tốc đáng kể, không chỉ đơn thuần duy trì tốc độ tăng trưởng của nửa đầu năm. Câu chuyện năm 2026 không chỉ về tốc độ tăng trưởng GDP nhanh hơn, mà còn về năng suất, nâng cấp công nghiệp, tăng cường vốn đầu tư và củng cố vị thế của Việt Nam trong cấu trúc kinh tế chiến lược của châu Á.
Việt Nam không còn chỉ đơn thuần tham gia vào chu kỳ đầu tư tiếp theo của châu Á, hấp thụ vốn toàn cầu, mà đang nổi lên là một trong những điểm đến chính của châu Á cho đầu tư sản xuất dài hạn, với chiều sâu công nghiệp, thực thi chính sách và hội nhập chuỗi cung ứng ngày càng củng cố lẫn nhau./.
TTXVN
Link nội dung: https://htv.vn/viet-nam-dang-la-diem-den-hang-dau-chau-a-cho-dau-tu-san-xuat-dai-han-22226072714171387.htm