Tín dụng xanh được đánh giá là nguồn vốn quan trọng để doanh nghiệp thực hiện các dự án hướng đến giảm phát thải. Tuy nhiên, việc xác định tiêu chí xanh, chi phí thẩm định và yêu cầu về hồ sơ đang tạo ra những rào cản tiếp cận vốn. Đây là vấn đề được doanh nghiệp và chuyên gia thảo luận tại hội thảo “Chính sách tín dụng và thị trường carbon: Khơi thông dòng vốn xanh” ở Hà Nội.

Hội thảo đặt vấn đề kết nối chính sách tín dụng với thị trường carbon, nhằm tạo thêm lựa chọn huy động vốn cho các dự án giảm phát thải
Chi phí thẩm định làm tăng rào cản tiếp cận vốn
Theo các ý kiến tại hội thảo, dù tín dụng xanh ghi nhận tăng trưởng, tỷ trọng trong tổng dư nợ tín dụng của Việt Nam vẫn còn thấp. Đáng chú ý, khó khăn không chỉ nằm ở nguồn cung vốn mà còn ở việc doanh nghiệp chưa xác định rõ những điều kiện cần đáp ứng để được công nhận là doanh nghiệp xanh, từ đó tiếp cận các khoản tài trợ phù hợp.
Ông Nguyễn Hữu Tú - Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Miza, cho biết doanh nghiệp vẫn phải tự tìm hiểu những tiêu chí cần đáp ứng. Trong khi đó, các ngân hàng và định chế tài chính chưa có khung hướng dẫn đủ cụ thể, thống nhất cho từng loại hình doanh nghiệp theo phản ánh của ông.

Ông Nguyễn Hữu Tú cho rằng doanh nghiệp cần có hướng dẫn cụ thể, thống nhất về tiêu chí xanh để chủ động chuẩn bị phương án tiếp cận vốn
Bên cạnh việc xác định tiêu chí, doanh nghiệp còn phải tính đến chi phí đánh giá và xác nhận mức độ đáp ứng các tiêu chí về môi trường. Ông Nguyễn Tú Anh - Giám đốc Nghiên cứu chính sách Trường Đại học VinUni, nhận định việc thẩm định và thuê tổ chức đánh giá để được xác nhận đáp ứng tiêu chí xanh có thể phát sinh chi phí đáng kể.

Theo ông Nguyễn Tú Anh, chi phí thẩm định và xác nhận đáp ứng tiêu chí xanh có thể tạo thêm gánh nặng tài chính cho doanh nghiệp
Điều này đặt ra bài toán đối với doanh nghiệp rằng ngoài phương án sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp còn cần nguồn lực để chứng minh tính phù hợp của dự án với các tiêu chí môi trường.
Do đó, các chuyên gia đề xuất hỗ trợ doanh nghiệp ngay từ khâu chuẩn bị hồ sơ, đo lường và xác minh kết quả giảm phát thải. Một bộ hồ sơ chuẩn hóa, có thể sử dụng khi làm việc với nhiều ngân hàng, được xem là giải pháp hạn chế việc phải thực hiện lại những thủ tục đánh giá tương tự.
Khơi thông tín dụng xanh cần nhiều hơn ưu đãi lãi suất
Theo các chuyên gia, để tiếp cận nguồn vốn xanh, doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược phát triển phù hợp với định hướng môi trường, xã hội và quản trị (ESG) thay vì chỉ tập trung tìm kiếm khoản vay có lãi suất ưu đãi.
Tiến sĩ Nguyễn Thị Thu Hà - Giám đốc Trường Đào tạo cán bộ kiêm Phó Trưởng ban Chỉ đạo ESG Agribank, cho rằng doanh nghiệp cần tích hợp chiến lược xanh hoặc ESG vào chiến lược kinh doanh. Đặc biệt, mục tiêu phải được xác định cụ thể, phù hợp với hoạt động của từng doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc hộ sản xuất.

Tiến sĩ Nguyễn Thị Thu Hà nhấn mạnh việc xây dựng mục tiêu ESG phù hợp với quy mô và đặc thù hoạt động của từng đơn vị
Từ yêu cầu này, hồ sơ tiếp cận tín dụng xanh cần thể hiện rõ mục tiêu môi trường, phương án thực hiện và kết quả có thể đo lường. Đồng thời, những khoản tiết kiệm chi phí từ hoạt động sản xuất, kinh doanh cần được xác định minh bạch để hỗ trợ quá trình đánh giá phương án tài chính.
Các ý kiến tại hội thảo còn đề xuất kết hợp trái phiếu xanh, trái phiếu tài trợ chuyển đổi, vốn cổ phần, tài chính hỗn hợp và thị trường carbon nhằm đa dạng hóa kênh huy động vốn.

Bên cạnh nguồn vay ngân hàng, trái phiếu xanh, vốn cổ phần và tài chính hỗn hợp được thảo luận như những kênh bổ trợ trong huy động vốn chuyển đổi xanh
Bên cạnh đó, cơ chế bảo lãnh và chia sẻ rủi ro được xem là công cụ cần thiết để thu hút các nguồn lực tài chính. Theo hướng tiếp cận được thảo luận, mỗi loại rủi ro cần được phân bổ cho bên có khả năng quản lý phù hợp nhất, qua đó nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng vốn.
Như vậy, khơi thông tín dụng xanh không chỉ phụ thuộc vào lãi suất mà còn đòi hỏi sự đồng bộ giữa tiêu chí đánh giá, năng lực chuẩn bị hồ sơ của doanh nghiệp và các công cụ tài chính. Khi những yêu cầu về môi trường và hiệu quả kinh tế được xác định, đo lường rõ ràng, quá trình tiếp cận vốn sẽ có thêm cơ sở để được xem xét, thẩm định và triển khai hiệu quả.