Tạo cơ sở pháp lý để quản trị biển hiện đại, bảo vệ môi trường

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, sáng 24/10, Quốc hội nghe trình bày tờ trình và báo cáo thẩm tra về các dự án: Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường; Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi).

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên phát biểu. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN

Thúc đẩy phát triển kinh tế biển xanh, bền vững

Theo Tờ trình của Chính phủ, việc xây dựng Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) là cần thiết nhằm hoàn thiện thể chế quản lý tổng hợp tài nguyên, không gian biển, bảo vệ môi trường biển và hải đảo; tạo cơ sở pháp lý để quản trị biển hiện đại, phát huy hiệu quả nguồn lực từ biển, thúc đẩy phát triển kinh tế biển xanh, bền vững, đồng thời bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế trong giai đoạn phát triển mới.

Dự thảo Luật gồm 6 chương, 76 điều; trong đó hoàn thiện chính sách và nguyên tắc quản lý theo hướng quản trị biển hiện đại, tổng hợp, thống nhất; làm rõ trách nhiệm của Chính phủ, cơ quan quản lý tổng hợp, bộ, cơ quan ngang bộ và chính quyền địa phương; tăng cường điều phối liên ngành, liên vùng, phân quyền gắn với hậu kiểm và trách nhiệm giải trình.

Về các nội dung bổ sung, dự thảo Luật bổ sung chế định quản lý, sử dụng không gian biển; cơ chế giải quyết chồng lấn, xung đột trong sử dụng không gian biển; cơ chế xác lập và thực hiện quyền sử dụng khu vực biển: giao, cho thuê, đăng ký; đấu giá quyền sử dụng khu vực biển được áp dụng để tăng công khai, minh bạch và cạnh tranh. Dự thảo bổ sung cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển hoạt động kinh tế trên biển, hải đảo theo nguyên tắc, tiêu chí, đối tượng và điều kiện cụ thể; ưu tiên ngành, lĩnh vực hiện đại, xanh, thông minh, công nghệ cao, hạ tầng dùng chung, công trình lưỡng dụng, đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ và tài chính biển xanh; bổ sung cơ chế kiểm soát dự án, hoạt động có yếu tố nước ngoài và giao dịch quyền sử dụng khu vực biển...

Về nội dung cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, dự thảo duy trì 4 thủ tục hành chính hiện hành và dự kiến bổ sung 8 thủ tục gắn với chế định mới và nghĩa vụ quốc tế; tăng tích hợp, liên thông, một đầu mối, không tạo thêm giấy phép tổng hợp.

Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Nguyễn Thanh Hải trình bày Báo cáo thẩm tra về dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi). Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN

Tán thành với sự cần thiết sửa đổi toàn diện Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Nguyễn Thanh Hải cho rằng dự thảo Luật điều chỉnh nhiều quan hệ liên quan đến quản lý không gian biển, quyền sử dụng khu vực biển, công trình trên biển, vùng bờ và bảo vệ môi trường liên quan trực tiếp với các Luật chuyên ngành như Luật Biển Việt Nam, Luật Đầu tư, Luật Xây dựng, Bộ luật Hàng hải, Luật Thủy sản, Luật Dầu khí, Luật Điện lực, Luật Đất đai, Luật Quy hoạch, Luật Bảo vệ môi trường… Vì vậy, một số nội dung trong dự thảo Luật cần được rà soát, làm rõ để bảo đảm thống nhất trong hệ thống pháp luật.

Ủy ban cơ bản tán thành việc mở rộng phạm vi điều chỉnh sang quản lý, sử dụng không gian biển; đề nghị bổ sung nội dung về cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển các hoạt động kinh tế sử dụng không gian biển vào phạm vi điều chỉnh. Đồng thời, cần xác định rõ nguyên tắc áp dụng pháp luật, bảo đảm quản lý tổng hợp không làm thay đổi, chồng lấn thẩm quyền quản lý chuyên ngành và không phát sinh thêm thủ tục hành chính không cần thiết.

Về trách nhiệm quản lý nhà nước và cơ chế điều phối liên ngành, cơ quan thẩm tra đề nghị làm rõ vai trò, trách nhiệm của Chính phủ, Bộ quản lý tổng hợp về biển và các bộ chuyên ngành; thẩm quyền quyết định trong xử lý xung đột về quy hoạch, dự án cụ thể và các vấn đề liên vùng, liên ngành; bảo đảm công khai, có tiêu chí lựa chọn phương án, trách nhiệm giải trình.

Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày tờ trình về 02 dự án: Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN

Cắt giảm mạnh đối tượng phải đánh giá tác động môi trường

Việc xây dựng dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường nhằm thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các quan điểm, chủ trương mới của Đảng về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu; tiếp tục cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính, nhất là về đánh giá tác động môi trường, cấp giấy phép môi trường, chuyển từ “tiền kiểm” sang tăng cường “hậu kiểm” và “chủ động chấp nhận rủi ro có kiểm soát”; phân cấp, phân quyền triệt để cho địa phương.

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung các quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, giấy phép môi trường.

Về đánh giá môi trường chiến lược, dự thảo Luật bổ sung việc giao Chính phủ quy định chi tiết nội dung thẩm định, xem xét, cho ý kiến về kết quả đánh giá môi trường chiến lược, góp phần làm rõ trách nhiệm và nâng cao hiệu quả phòng ngừa ô nhiễm.

Về đánh giá sơ bộ tác động môi trường: Giảm từ 3 xuống 2 nhóm tiêu chí môi trường và giao Chính phủ quy định chi tiết; đơn giản hóa phân loại dự án từ 4 xuống 3 nhóm; cắt giảm mạnh đối tượng phải đánh giá tác động môi trường, bổ sung thêm nhiều đối tượng được miễn đánh giá tác động môi trường và chuyển một số đối tượng sang đăng ký môi trường; đơn giản hóa nội dung báo cáo và trình tự thẩm định đánh giá tác động môi trường, phân định rõ thẩm quyền thẩm định...

Về giấy phép môi trường, dự thảo Luật cắt giảm mạnh đối tượng phải có giấy phép môi trường theo hướng chấp nhận rủi ro có kiểm soát, chuyển từ “tiền kiểm” sang tăng cường “hậu kiểm”; đơn giản hóa nội dung, hồ sơ cấp phép, kéo dài thời hạn giấy phép môi trường đối với một số đối tượng và phân quyền cấp phép cho địa phương.

Dự thảo bổ sung quy định liên thông thủ tục hành chính về đánh giá tác động môi trường, giấy phép môi trường với các thủ tục hành chính liên quan; giao Chính phủ quy định chi tiết về bảo vệ môi trường nơi công cộng, hoạt động xây dựng; bổ sung quản lý đất, đá thải mỏ, quặng đuôi, chất ô nhiễm khó phân hủy, nhập khẩu phế liệu và dữ liệu điện tử.

Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường tán thành với sự cần thiết sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường; đánh giá dự thảo Luật phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng, cơ bản bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật.

Cơ quan thẩm tra đánh giá cao bước cải cách đột phá, cắt giảm mạnh mẽ đối tượng phải đánh giá tác động môi trường, phải có giấy phép môi trường và đẩy mạnh phân cấp cho UBND cấp tỉnh, cấp xã. Tuy nhiên, đề nghị bổ sung cơ chế giám sát từ Trung ương, biện pháp quản lý thay thế để tránh buông lỏng quản lý; quy định rõ cơ chế cá thể hóa trách nhiệm người đứng đầu địa phương nếu để xảy ra ô nhiễm môi trường.

Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Tờ trình về dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi). Ảnh: Doãn Tấn TTXVN

Bổ sung quy định về hệ thống thông tin dữ liệu an toàn thực phẩm

Trong phiên họp sáng 24/10, Quốc hội nghe trình bày tờ trình và báo cáo thẩm tra dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi).

Luật này quy định về an toàn thực phẩm; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong bảo đảm an toàn thực phẩm; hệ thống thông tin dữ liệu an toàn thực phẩm; thử nghiệm về an toàn thực phẩm; điều kiện bảo đảm an toàn đối với sản xuất, kinh doanh thực phẩm; điều kiện bảo đảm an toàn đối với thực phẩm; biện pháp quản lý an toàn thực phẩm, phân tích nguy cơ; phòng ngừa, khắc phục sự cố về an toàn thực phẩm; hậu kiểm an toàn thực phẩm; thông tin, truyền thông về an toàn thực phẩm, quảng cáo, ghi nhãn thực phẩm; quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm. Dự thảo Luật gồm 74 điều, 9 chương.

Dự thảo Luật bổ sung nguyên tắc áp dụng Luật để áp dụng trong trường hợp Luật An toàn thực phẩm và các Luật khác có xung đột pháp luật; bổ sung nghĩa vụ của doanh nghiệp khi kinh doanh theo phương thức thương mại điện tử; quy định về hệ thống thông tin dữ liệu an toàn thực phẩm; quy định các cơ sở kinh doanh thực phẩm phải đáp ứng điều kiện vệ sinh tốt, đáp ứng các hệ thống quản lý thực phẩm tiên tiến; quy định thực phẩm sau thu hái, đánh bắt, khai thác, giết mổ phải đáp ứng mức giới hạn dư lượng thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật và các tác nhân gây nhiễm trong thực phẩm. Dự thảo Luật cũng sửa đổi, bổ sung trách nhiệm quản lý nhà nước của các Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Công Thương và các bộ ngành liên quan.

Tán thành sự cần thiết sửa đổi toàn diện Luật An toàn thực phẩm, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường cho rằng, dự thảo Luật đã thể chế hóa nhiều chủ trương lớn như chuyển trọng tâm sang hậu kiểm, quản lý theo chuỗi, chuyển đổi số.

Ủy ban tán thành việc mở rộng phạm vi điều chỉnh, bổ sung các nội dung về thử nghiệm và hệ thống thông tin dữ liệu an toàn thực phẩm. Tuy nhiên, cơ quan thẩm tra đề nghị rà soát để xác định rõ ranh giới với các luật chuyên ngành có giao thoa (chất lượng sản phẩm, hàng hóa; tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; thú y; bảo vệ và kiểm dịch thực vật; thủy sản; thương mại điện tử; quảng cáo; bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng…); trường hợp cần loại trừ thì quy định cụ thể tại Điều 1. Điều 3 chỉ nên quy định các trường hợp áp dụng pháp luật thực sự đặc thù, tránh thiết lập nguyên tắc ưu tiên chung có thể dẫn đến cách hiểu khác nhau. Đồng thời, đề nghị làm rõ việc áp dụng đối với tổ chức cung cấp suất ăn từ thiện, hộ kinh doanh trên nền tảng số xuyên biên giới không có hiện diện thương mại tại Việt Nam.

Về nguyên tắc quản lý, chính sách của Nhà nước, hành vi bị nghiêm cấm, cơ quan thẩm tra tán thành nguyên tắc quản lý theo chuỗi cung ứng trên cơ sở phân tích nguy cơ (khoản 4 Điều 4). Tuy nhiên, nguyên tắc phân cấp, phân quyền (khoản 5 Điều 4) cần cụ thể hóa bằng tiêu chí phân định thẩm quyền giữa trung ương và địa phương, giữa Bộ Y tế và các bộ chuyên ngành; chính sách tại Điều 5 cần có cơ chế bảo đảm thực thi, cụ thể hóa vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Cơ quan thẩm tra cũng đề nghị rà soát, không đồng nhất mọi lỗi ghi nhãn, mọi sai lệch chỉ tiêu chất lượng so với tiêu chuẩn tự công bố với hành vi bị nghiêm cấm (điểm a, b khoản 5 Điều 7); làm rõ việc san chia, sang chiết sản phẩm đã có nhãn để bán lẻ có thuộc hành vi bị nghiêm cấm không?

Nguồn: baotintuc.vn (TTXVN)

MC ZI A.I. TỔNG HỢP

Link nội dung: https://htv.vn/tao-co-so-phap-ly-de-quan-tri-bien-hien-dai-bao-ve-moi-truong-22226102410575725.htm