Kỷ niệm 100 năm ngày sinh đồng chí Trần Bạch Đằng (15/7/1926 - 15/7/2026): Tầm nhìn của một nhà tư tưởng

Kỷ niệm 100 năm ngày sinh đồng chí Trần Bạch Đằng (15/7/1926 - 15/7/2026), chúng ta nhớ về một trong những Bí thư Thành ủy thời kháng chiến chống Mỹ cứu nước, một chiến sĩ cộng sản giàu sức chiến đấu, có tư duy sắc bén, suốt đời gắn bó với nhân dân.

LTS: Ngày 15/7/2026 tròn 100 năm Ngày sinh đồng chí Trần Bạch Đằng (15/7/1926 - 15/7/2026), nguyên Bí thư Thành ủy Sài Gòn - Gia Định. Đồng chí là nhà lãnh đạo tài năng, có tư duy đổi mới, gắn bó mật thiết với nhân dân và là một cây bút sắc sảo. Cuộc đời hoạt động cách mạng và sự nghiệp cầm bút của đồng chí gắn bó sâu nặng với công tác tuyên huấn và vùng đất Sài Gòn - Gia Định - TP.HCM.

Nắm bắt thực tiễn nhanh nhạy

Trong kháng chiến, khi đồng chí Trần Bạch Đằng về tham gia lãnh đạo Khu ủy Sài Gòn - Gia Định, lớp cán bộ “vùng chiến lược đô thị” sớm nhận ra một nhà lãnh đạo luôn bám sát cách mạng Nam bộ. Ở đồng chí có tinh thần lạc quan, nghị lực mạnh mẽ, lý luận sắc bén, khả năng nắm bắt thực tiễn nhanh nhạy và đề xuất giải pháp quyết liệt, thuyết phục.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, không trực tiếp làm công việc quản lý nhà nước, đồng chí có nhiều thời gian nghiên cứu và viết. Nhà tư tưởng ấy luôn sát cánh cùng các đồng chí lãnh đạo, nhất là bí thư các tỉnh miền Nam; thường xuyên trao đổi và đi cơ sở cùng đồng chí Võ Văn Kiệt, Bí thư Thành ủy TP.HCM thời kỳ tiền đổi mới.

Những công trình nghiên cứu và bài báo sinh động của đồng chí Trần Bạch Đằng đã trực diện phê phán cơ chế kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, phê phán tư tưởng bảo thủ, duy ý chí. Đồng chí đề nghị phải “bung ra” lao động sản xuất, ủng hộ những nhà lãnh đạo dám nghĩ, dám làm.

Tầm cao trí tuệ của đồng chí thể hiện ở khả năng nhìn thấu bản chất những vấn đề lớn, phức tạp rồi diễn giải rõ ràng. Khi hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu khủng hoảng rồi sụp đổ, đồng chí chỉ rõ những tác động sâu sắc đối với chúng ta về tình cảm, vật chất, lý luận, chính trị, kinh tế, văn hóa; đồng thời khẳng định Việt Nam có lịch sử, đặc điểm và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của mình.

Theo đồng chí, con đường của mỗi dân tộc, quốc gia, bên cạnh những nguyên lý phổ biến, còn là sản phẩm của trí tuệ, lao động, niềm tin và bản sắc riêng. Điều quan trọng là chăm lo bước đi của chính mình, dựa trên bài học lịch sử và gắn với thời đại. Đồng chí từng cảnh báo “khủng hoảng của mọi khủng hoảng” là chưa nhận thức rõ mình là ai, đang ở trong một thế giới ra sao, điều mong muốn có phù hợp với khả năng và biện pháp thực hiện hay không.

Đối với lớp cán bộ phong trào thanh niên, học sinh, sinh viên chúng tôi, nhiều thời kỳ được đồng chí trực tiếp lãnh đạo, sự dìu dắt ấy giúp mỗi người trưởng thành nhanh hơn, hăng say hoạt động. Chúng tôi luôn yêu quý, kính phục chú Mười Nguyễn Văn Linh, chú Sáu Võ Văn Kiệt, chú Tư Trần Bạch Đằng, chú Năm Xuân Mai Chí Thọ.

Mũi xung kích thời kỳ tiền đổi mới

Những năm 1980, TP.HCM cũng như cả nước gặp nhiều khó khăn dưới gánh nặng của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp. Đồng chí Trần Bạch Đằng từng mô tả “thành lũy bảo thủ” được yểm trợ bởi một bộ máy thích nói hơn làm, thích phán hơn nghe, thích ngồi hơn đi, thích hưởng thụ mà ngại lao động. Tiến công vào thành lũy ấy rất khó khăn, nhưng đồng chí cùng những cán bộ từng trải qua chiến tranh ác liệt đã không chùn bước.

Từ kinh nghiệm chiến trường, đồng chí chỉ ra ý nghĩa quyết định của việc chọn đúng “cửa đột phá”. Trong một trận đánh, tìm đúng cửa mở và tập trung sức phá vỡ thì phần trọng yếu của thắng lợi đã được định đoạt. Qua cửa đột phá, lực lượng xung kích, chủ công và yểm trợ mới có thể tiến vào trung tâm, làm chủ trận địa.

Vận dụng vào công cuộc đổi mới, đồng chí xác định: sau khi có quan điểm, đường lối mới thì cơ chế và con người có trách nhiệm phải “động” ngay, đó chính là cửa đột phá. Phải đột phá vào cơ chế cản trở phát triển và xử lý trách nhiệm những người không chịu đổi mới. Tính cách ngay thẳng, trung trực, dám đương đầu của đồng chí thường bộc lộ công khai, không né tránh. Bài học ấy đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

Trong một bài viết đăng Báo Nhân Dân cuối năm 1994, đồng chí phân tích một đặc điểm quan trọng của đổi mới: mở cửa, hòa nhập quốc tế nhưng phải giữ vững độc lập, chủ quyền và bản sắc dân tộc; không thể đồng hóa mở cửa với thả cửa, hòa nhập với sáp nhập. Đồng chí nhấn mạnh, đổi mới trước hết vì sự bền vững của nền độc lập, tự do Việt Nam.

Đồng chí cũng nhìn đổi mới từ yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất, đưa Việt Nam thoát nghèo, từng bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đồng chí cảnh báo nguy cơ xã hội vừa có mức sống cao hơn đã đam mê hưởng thụ vượt khả năng của nền kinh tế, để tiêu dùng nuốt mất phần tích lũy còn mỏng.

Hôm nay, sau 40 năm đổi mới với những thành tựu to lớn, lời nhắc của đồng chí Trần Bạch Đằng vẫn mang ý nghĩa thời sự: làm chủ quá trình đổi mới, tránh va vấp, đòi hỏi những người cộng sản, những người yêu công lý, những người lao động phải luôn động não. Đó cũng là bài học về sự vững vàng trong mọi tình huống, biết “dĩ bất biến ứng vạn biến”. Cái bất biến chính là mục tiêu, lý tưởng cách mạng, là con đường Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn.

Nguồn: https://www.sggp.org.vn/ky-niem-100-nam-ngay-sinh-dong-chi-tran-bach-dang-15-7-1926-15-7-2026-tam-nhin-cua-mot-nha-tu-tuong-post862306.html

Báo SGGP

Link nội dung: https://htv.vn/ky-niem-100-nam-ngay-sinh-dong-chi-tran-bach-dang-15-7-1926-15-7-2026-tam-nhin-cua-mot-nha-tu-tuong-222260715080644266.htm