Kim chỉ nam cho đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển

Trong suốt hành trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đặt nền móng cho nền ngoại giao hiện đại của đất nước mà còn định hình một tư duy đối ngoại mang tầm chiến lược, nhân văn và thời đại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chuyến thăm Bulgaria, tháng 8/1957. Ảnh: Tư liệu/TTXVN phát

Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh đã trở thành kim chỉ nam cho đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển của Việt Nam; góp phần nâng cao vị thế, uy tín và vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế, đồng thời tạo nền tảng vững chắc cho mục tiêu phát triển đất nước bền vững trong kỷ nguyên mới.

Ngoại giao phục vụ phát triển

Tiến sĩ Lê Trung Kiên (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) cho rằng, trong di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” luôn là nền tảng và kim chỉ nam cho bối cảnh hiện nay. “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” là cái “bất biến”, bất di bất dịch. Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược, việc vận dụng trước hết phải là sự kiên định tuyệt đối về chủ quyền và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Cho nên, đường lối đối ngoại của Việt Nam là không chọn bên, mà chọn công lý và lẽ phải. Vận dụng tư tưởng của Hồ Chí Minh về “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”, chủ trương của Việt Nam là không tham gia liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống nước kia, mà luôn kiên định độc lập, hòa bình, ổn định và lợi ích của nhân dân Việt Nam.

Điều quan trọng là luôn tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc. Độc lập không chỉ là biên giới lãnh thổ, mà còn là độc lập về đường lối lãnh đạo, chỉ đạo, tất cả vì mục tiêu và con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã vạch ra. Để độc lập về chính trị, phải tự chủ về kinh tế. Việt Nam cần đột phá trong công nghiệp quốc phòng, công nghệ lõi và an ninh năng lượng. Một nền kinh tế mạnh và tự chủ là nền tảng để tiếng nói của chúng ta có trọng lượng hơn trên bàn đàm phán quốc tế. Hợp tác quốc tế trên tinh thần “tương trợ hữu ái” và chân lý đúng đắn của thời đại. Chúng ta hợp tác nhưng không “hòa tan”, tiếp thu tinh hoa nhân loại nhưng phải trên nền tảng bản sắc chính trị và định hướng xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, thay vì chọn một điểm tựa duy nhất, Việt Nam tạo ra một mạng lưới lợi ích đan xen với tất cả các nước lớn. Khi lợi ích của các đối tác gắn chặt với sự ổn định và phát triển của Việt Nam, đó chính là cái “khiên” bảo vệ chủ quyền hữu hiệu nhất.

Theo Tiến sĩ Lê Trung Kiên, tư tưởng Hồ Chí Minh về “ngoại giao nhân dân” hiện nay được nâng tầm thành ngoại giao phục vụ cho sự phát triển bền vững. Đây là biểu hiện trực tiếp nhất của Nhà nước “vì dân” và “bảo vệ dân”, trên cơ sở lấy “dân là gốc” trong hoạt động ngoại giao. Trong kỷ nguyên số và hội nhập sâu, hàng triệu người Việt Nam sinh sống, lao động và học tập tại nước ngoài. Ngoại giao phải vận dụng luật pháp quốc tế để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân mình, coi đó là thước đo hiệu quả của bộ máy hành chính tư pháp. Song hành với đó, Nhà nước pháp quyền cần sự minh bạch và hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. Ngoại giao đóng vai trò thu hút các mô hình quản trị tiên tiến, kinh nghiệm xây dựng hệ thống pháp luật từ các nước phát triển để hoàn thiện “chiếc lồng” cơ chế, kiểm soát quyền lực, phục vụ nhân dân tốt hơn.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại không chỉ là một chiến lược giúp dân tộc ta giành độc lập trong quá khứ, mà còn là kim chỉ nam cho công cuộc kiến tạo thể chế và quản trị quốc gia trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, sức mạnh thời đại chính là lý luận tinh hoa của thời đại, những trào lưu tiến bộ, tri thức khoa học và các giá trị nhân văn của nhân loại. Vận dụng tư tưởng này, chúng ta không thể xây dựng pháp luật theo kiểu “đóng cửa” hay rập khuôn máy móc theo nước ngoài.

Sức mạnh thời đại hôm nay chính là hệ thống luật pháp quốc tế, các định chế thương mại (WTO, EVFTA, CPTPP). Việc hoàn thiện pháp luật của Nhà nước Việt Nam phải là quá trình chủ động nội luật hóa các chuẩn mực quốc tế để bảo vệ lợi ích quốc gia từ sớm, từ xa, tạo ra một hành lang pháp lý minh bạch, tương thích toàn cầu. Tuy nhiên, “gốc” vẫn là thực tiễn Việt Nam, pháp luật phải vừa mang tính hiện đại của thế giới, vừa giữ được hồn cốt, đạo đức và đặc điểm chính trị - xã hội của Việt Nam để không bị “hòa tan” về mặt pháp lý.

Trong bối cảnh mới, những thách thức lớn nhất là sự mâu thuẫn giữa việc “tuân thủ luật chơi chung” của các định chế quốc tế (WTO, CPTPP...) và việc “giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa”; sự đối đầu giữa tính “mở” của không gian mạng và tính “độc lập” về chủ quyền số; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn khiến việc giữ vững thái độ “dĩ bất biến ứng vạn biến” trở nên cực kỳ áp lực. Sự lôi kéo, ép buộc “chọn bên” làm cho việc duy trì sự tự chủ trong quyết sách đối ngoại trở thành một cuộc đấu trí cam go; các vấn đề như biến đổi khí hậu, thiên tai bão lũ, dịch bệnh, xung đột vũ trang hay tội phạm mạng mang tính toàn cầu.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh sự tự chủ, nhưng trong thế giới số, biên giới quốc gia trở nên mờ nhạt chứ không còn hiện hữu tuyệt đối. Làm sao để vừa tiếp nhận dòng chảy tri thức toàn cầu, vừa bảo vệ được bản sắc tư tưởng và an ninh dữ liệu quốc gia là một bài toán khó. Làm sao để luật pháp của ta tương thích với thế giới mà vẫn bảo vệ được quyền lợi của nhân dân lao động theo đúng tâm nguyện của Người. Do đó, chúng ta cần sự hợp tác sâu rộng nhưng phải bảo đảm không bị cuốn vào những cam kết làm phương hại đến lợi ích cốt lõi và chính nghĩa của dân tộc.

Mở rộng quan hệ đối ngoại

GS.TS Mạch Quang Thắng, Uỷ viên Hội đồng Khoa học giảng viên cao cấp, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Ảnh tư liệu: Lê Đông/TTXVN

Giáo sư, Tiến sĩ Mạch Quang Thắng (nguyên Giảng viên cao cấp, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) khẳng định, người đặt nền móng cho sự phát triển của nền ngoại giao Việt Nam hiện đại chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo Giáo sư, Tiến sĩ Mạch Quang Thắng, chưa bao giờ đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực và vị thế quốc tế như ngày nay và điều đó bắt nguồn từ tư tưởng đối ngoại sâu sắc của Người.

Ngay từ những năm đầu khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác lập một tư duy đối ngoại rất tiến bộ và rộng mở: “làm bạn với tất cả các nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”. Thậm chí, Người còn nhắc đến tinh thần “tứ hải giai huynh đệ” - bốn biển đều là anh em. Theo Giáo sư, Tiến sĩ Mạch Quang Thắng, chính tư tưởng quảng giao ấy đã trở thành nền tảng cho đường lối đối ngoại của Việt Nam hôm nay và thực tiễn cho thấy chúng ta đang đi đúng hướng nên mới đạt được những thành tựu quan trọng trong hội nhập quốc tế.

Giáo sư cũng cho rằng, trong từng giai đoạn lịch sử, chính sách đối ngoại của Việt Nam luôn gắn với điều kiện cụ thể của đất nước. Trước đây, trong bối cảnh thế giới phân cực thành hai phe, hai hệ thống chính trị đối lập, Việt Nam chủ yếu quan hệ trong khối xã hội chủ nghĩa và với một số đối tác phù hợp với hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ. Tuy nhiên, bước vào thời kỳ đổi mới, mở cửa và hội nhập quốc tế sâu rộng, yêu cầu đặt ra là phải mở rộng quan hệ đối ngoại trên tất cả các lĩnh vực, xây dựng quan hệ bền vững với nhiều quốc gia và đối tác trên thế giới.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đối ngoại không chỉ là mở rộng quan hệ mà còn phải dựa trên sự chân thành, thủy chung và cùng hợp tác phát triển. Việt Nam hiện nay không ngừng thiết lập và củng cố các mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, thúc đẩy hợp tác kinh tế, quốc phòng, an ninh và nhiều lĩnh vực khác, đồng thời chủ động đóng góp vào hòa bình, ổn định và sự phát triển chung của khu vực cũng như trên thế giới.

Giáo sư, Tiến sĩ Mạch Quang Thắng nhấn mạnh, chính đường lối đối ngoại mang đậm tư tưởng Hồ Chí Minh đã giúp Việt Nam không chỉ nhận được sự yêu mến của nhân dân trong nước mà còn được nhiều Chính phủ và nhân dân tiến bộ trên thế giới trân trọng. Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, việc học tập và vận dụng tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh cần được tiếp tục phát huy mạnh mẽ hơn nữa.

Theo ông, trước hết phải tiếp tục mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế trên mọi lĩnh vực. Bên cạnh đó, trong quan hệ ngoại giao phải luôn giữ tinh thần chân thành, thẳng thắn và hữu nghị. Bởi xây dựng được tình hữu nghị bền vững là điều rất khó khăn, cần nhiều thời gian và sự tin cậy, trong khi phá vỡ lại rất dễ dàng.

Quan trọng hơn hết, dù mở rộng quan hệ đến đâu thì Việt Nam vẫn phải kiên định nguyên tắc bảo đảm các quyền dân tộc cơ bản của mình, đồng thời tôn trọng quyền dân tộc của các quốc gia đối tác. Giáo sư, Tiến sĩ Mạch Quang Thắng cho rằng, đây chính là điều “bất biến” trong tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh. Những giá trị cốt lõi ấy bao gồm hòa bình, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ - những nguyên tắc thiêng liêng không thể nhân nhượng trong mọi hoàn cảnh. Đó cũng chính là tinh thần “dĩ bất biến, ứng vạn biến” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho nền ngoại giao Việt Nam.

TTXVN

Link nội dung: https://htv.vn/kim-chi-nam-cho-duong-loi-doi-ngoai-doc-lap-tu-chu-hoa-binh-hop-tac-va-phat-trien-222260518114917271.htm