Không chỉ là vị lãnh tụ thiên tài, người anh hùng giải phóng dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là biểu tượng cao đẹp của lòng nhân ái, đức hy sinh và tình yêu thương con người bao la.
Trong những phẩm chất cao đẹp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lòng yêu thương con người giữ một vị trí đặc biệt quan trọng. Đó vừa là động lực thôi thúc Người hoạt động không mệt mỏi vì nước, vì dân, vừa là nền tảng để quy tụ, đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước.
Tình yêu thương ấy đã trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tư tưởng, đạo đức và phong cách sống; là nguồn sức mạnh thôi thúc Người cống hiến trọn đời cho độc lập dân tộc, tự do và hạnh phúc của nhân dân.
Trong bối cảnh đất nước đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, đặc biệt là học tập tấm gương yêu thương con người của Bác, càng có ý nghĩa sâu sắc và cấp thiết đối với mỗi cán bộ, đảng viên và toàn xã hội.
Trong những phẩm chất cao đẹp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lòng yêu thương con người giữ một vị trí đặc biệt quan trọng. Đó vừa là động lực thôi thúc Người hoạt động không mệt mỏi vì nước, vì dân, vừa là nền tảng để quy tụ, đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước.
Theo Bác, yêu thương con người trước hết là yêu thương đồng bào, nhân dân lao động, những người nghèo khổ, bị áp bức và bóc lột. Chính vì vậy, Người đã dành cả cuộc đời để đấu tranh giành độc lập dân tộc, đem lại tự do, cơm no áo ấm cho nhân dân. Khát vọng lớn nhất của Người được thể hiện trong câu nói bất hủ: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành.”
Đó là thông điệp Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đến quốc dân đồng bào, trở thành ngọn cờ chiến đấu và mục tiêu suốt đời hy sinh, cống hiến của Người.
Với tình yêu thương vô hạn đó, trọn cuộc đời của mình, Người đã cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, cho hạnh phúc của Nhân dân. Người khẳng định: “Nếu nước độc lập mà dân không được tự do, thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì”; “Chúng ta giành được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”
Tình yêu thương con người của Bác rất cụ thể, rõ ràng từ việc lớn đến việc nhỏ như: lo giải phóng cho con người khỏi ách áp bức, bóc lột, được tự do, hạnh phúc; đến việc giúp cho con người thoát dần khỏi cuộc sống đói, nghèo, thiếu thốn, vất vả, thậm chí đến từng bữa cơm, manh áo, từ chỗ ở, việc làm…
Bác đánh giá cao vai trò của Nhân dân, Bác tôn trọng từ các nhà khoa học, các bậc hiền tài cho tới những người lao công quét rác. Bởi theo Bác, từ Chủ tịch nước tới người lao động bình thường, nếu hoàn thành tốt nhiệm vụ, đều được coi trọng, đều vẻ vang như nhau.
Tình yêu thương con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh thật giản dị mà cao quý. Tình yêu thương đó không phải bằng lời nói cao sang hay những khẩu hiệu hô hào chung chung mà bằng chính hành động, lời nói và việc làm cụ thể.
Ngay khi Cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền cách mạng còn non trẻ lại phải đối phó với muôn vàn khó khăn, thử thách trước cảnh “ngàn cân treo sợi tóc”, cùng với hạn hán, thiên tai, lũ lụt, Nhân dân ta rơi vào tình cảnh chết đói ở khắp mọi nơi.
“Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành.”
Trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ ngày 03/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi toàn dân thi đua “diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm”. Người tin vào lực lượng của Nhân dân, vào tinh thần và sự hăng hái của toàn dân - nguồn nội lực lớn nhất có thể đưa dân tộc vượt qua mọi khó khăn, nguy hiểm trong cuộc chiến đấu chống mọi kẻ thù để bảo vệ và xây dựng đất nước.
Vì vậy, để khắc phục nạn đói, Người đề nghị Hội đồng Chính phủ phát động một chiến dịch tăng gia sản xuất và mở cuộc quyên góp cứu đói. Ngày 07/12/1945, trong thư gửi nông gia Việt Nam, Người khẩn thiết kêu gọi: “Tăng gia sản xuất! Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa! Đó là cách thiết thực để chúng ta giữ vững quyền tự do, độc lập”.
Hưởng ứng lời kêu gọi của Người, cả nước thi đua thực hiện “tấc đất, tấc vàng”, “không một tấc đất bỏ hoang”. Người cùng các Bộ trưởng và nhân viên Chính phủ cùng tham gia sản xuất sau giờ làm việc, tăng gia một cách thực sự, không phải là tăng gia một cách hình thức. Trong khi chờ đợi thu hoạch ngô, khoai, sắn…
Bác Hồ với các cháu thiếu nhi dũng sỹ miền Nam ra thăm miền Bắc (13/2/1969). (Ảnh: Tư liệu TTXVN)
Người đề xướng phong trào quyên góp “hũ gạo cứu đói”, kêu gọi đồng bào cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa để lấy gạo cứu dân nghèo và Bác đã tự gương mẫu thực hiện trước. Tại buổi khai mạc cuộc quyên góp tổ chức ở Nhà hát lớn Hà Nội, Bác đã đem phần gạo nhịn ăn của mình quyên góp trước tiên.
Tấm gương về việc làm của Bác đã khích lệ đồng bào cả nước hưởng ứng làm theo. Bằng những lời lẽ thiết tha, xúc động, Người viết thư động viên đồng bào cả nước nêu cao tinh thần “nhường cơm sẻ áo” để cứu dân nghèo: “Lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước và tôi xin thực hành trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa. Ðem gạo đó để cứu dân nghèo”. Nhờ sáng kiến đó, mỗi tuần Nhân dân cả nước đã quyên góp được hàng vạn tấn gạo cứu đói, giúp cho nhiều người nghèo vượt qua nạn đói khủng khiếp năm 1945.
Những năm Người ở và làm việc tại Phủ Chủ tịch (1954-1969), tấm lòng nhân ái bao la của Người càng được phản ánh sâu sắc qua sự quan tâm và sẻ chia của Bác đối với từng con người: trước hết cho những con người ở vị trí chiến đấu gian khổ nhất; chia sẻ đau buồn, cảm thông với những người mất mát, hy sinh; khoan dung độ lượng với những người lầm lỗi, khuyết điểm, nay thành thật hối cải; thuyết phục những người do dự, phân vân; trân trọng các cháu thiếu niên, nhi đồng; kính trọng các cụ phụ lão; sống chan hoà, gần gũi với những người giúp việc quanh mình… Tình thương yêu con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là lòng thương hại, cũng không phải là lòng trắc ẩn mà là sự đồng cảm sâu sắc của những người cùng cảnh ngộ, thấu hiểu những đau khổ, hy sinh của đồng bào.
Thời kỳ Người ở và làm việc tại Phủ Chủ tịch là những tháng năm đất nước bị chia cắt làm hai miền Nam-Bắc. Đồng bào miền Nam chịu nhiều mất mát, hy sinh bởi sự tàn sát dã man của đế quốc Mỹ xâm lược. Bác luôn hướng về đồng bào, chiến sĩ miền Nam với tình thương yêu sâu nặng: “Một ngày miền Nam chưa được giải phóng là ngày đó tôi ăn không ngon, ngủ không yên”; “Ở miền Nam mỗi người, mỗi gia đình đều có những nỗi đau khổ riêng và gộp lại tất cả những nỗi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đình lại thì thành nỗi đau khổ của tôi”.
Tình thương yêu con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn thể hiện ở sự chăm sóc, lo lắng đối với đồng bào, đồng chí, các cụ phụ lão, các cháu thanh thiếu niên, nhi đồng, các chiến sỹ ngoài mặt trận.
Người quan niệm cái gì có lợi cho Nhân dân, cho dân tộc là chân lý và Người xem phục vụ Nhân dân là phục vụ chân lý, làm công bộc cho Nhân dân là một việc làm cao thượng. Vì lẽ đó cuộc đời hoạt động cách mạng của Người là tấm gương mẫu mực về gần dân, kính trọng, phục vụ Nhân dân.
Tấm lòng nhân ái, bao dung, tình yêu thương con người là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tư tưởng, tình cảm của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cho tới trước lúc đi xa, về với “thế giới người hiền,” trong lời Di chúc, Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Suốt đời tôi hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa. Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thương yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng. Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế”.
Cuộc đời và nhân cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa nhân văn Việt Nam. Tình yêu thương con người của Bác sẽ còn mãi soi sáng tâm hồn các thế hệ hôm nay và mai sau, như dòng phù sa bồi đắp cho dân tộc Việt Nam trường tồn và phát triển
Học tập Bác không chỉ là học những điều lớn lao, mà còn là học cách sống nhân ái, sẻ chia, biết quan tâm đến người khác, sống có trách nhiệm với cộng đồng và đất nước. Đó cũng là nền tảng để xây dựng một xã hội văn minh, nghĩa tình và phát triển bền vững.
Tư tưởng “dân là gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra yêu cầu rất rõ đối với công cuộc đổi mới hiện nay: mọi cải cách phải lấy Nhân dân làm trung tâm, lấy phục vụ Nhân dân tốt hơn làm mục tiêu và lấy sự hài lòng, niềm tin, hạnh phúc của Nhân dân làm thước đo đánh giá.
Trong bài viết với tiêu đề "Ánh sáng Hồ Chí Minh soi đường cho chúng ta đi" nhân kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nêu rõ: Tư tưởng “dân là gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục là trục xuyên suốt của mọi chủ trương, đường lối, chính sách trong giai đoạn hiện nay.
Trong tư tưởng của Người, Nhân dân là chủ thể của lịch sử, là nguồn sức mạnh vô tận của cách mạng, là mục tiêu phục vụ cao nhất của Đảng và Nhà nước. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Chính quyền từ Trung ương đến cơ sở đều là công bộc của dân. Cán bộ, đảng viên phải gần dân, hiểu dân, tin dân, trọng dân, học dân, vì dân và có trách nhiệm với Nhân dân.
Tinh thần ấy đặt ra yêu cầu rất rõ đối với công cuộc đổi mới hiện nay: mọi cải cách phải lấy Nhân dân làm trung tâm, lấy phục vụ Nhân dân tốt hơn làm mục tiêu và lấy sự hài lòng, niềm tin, hạnh phúc của Nhân dân làm thước đo đánh giá.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. (Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)
Tinh gọn bộ máy không phải chỉ để giảm đầu mối, giảm tầng nấc, giảm chi phí, mà sâu xa hơn là để bộ máy gần dân hơn, sát cơ sở hơn, xử lý công việc nhanh hơn, phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn. Phân cấp, phân quyền để rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, phát huy tính chủ động, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm của từng cấp, từng ngành, từng địa phương. Chuyển đổi số là nhằm hiện đại hóa phương tiện quản lý, tạo ra nền quản trị minh bạch hơn, thuận tiện hơn, công bằng hơn, chu đáo hơn và nhanh chóng hơn.
Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, nếu Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định con đường phát triển mới của đất nước, thì tư tưởng Hồ Chí Minh chính là ánh sáng soi đường để chúng ta đi trên con đường ấy với bản lĩnh vững vàng, mục tiêu đúng đắn, phương pháp khoa học và niềm tin sâu sắc vào Nhân dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là người tìm ra con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, mà còn là người đặt nền móng tư tưởng cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước Việt Nam trong thời đại mới. Ở Người, độc lập dân tộc gắn liền với tự do, hạnh phúc của Nhân dân, với Chủ nghĩa xã hội. Giải phóng dân tộc là điểm khởi đầu của một hành trình lớn: xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, Nhân dân được làm chủ, được sống ấm no, tự do, hạnh phúc, được học hành, được phát triển toàn diện và được thụ hưởng thành quả của cách mạng.
Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay không chỉ là dịp tưởng nhớ, tri ân công lao trời biển của Người. Đây còn là dịp để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tự soi lại mình trước tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người; củng cố niềm tin vào con đường đã lựa chọn; nâng cao trách nhiệm trước Tổ quốc, trước Nhân dân; biến tư tưởng Hồ Chí Minh thành hành động cách mạng cụ thể trong từng cơ quan, từng địa phương, từng cán bộ, đảng viên và từng người dân.
Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh hôm nay không thể dừng ở những lời nói đúng, những khẩu hiệu hay, những phong trào hình thức. Điều quan trọng hơn là phải chuyển hóa thành đạo đức công vụ, kỷ luật thực thi, văn hóa liêm chính, tinh thần đổi mới sáng tạo, trách nhiệm phục vụ Nhân dân, năng lực tổ chức thực hiện và kết quả cụ thể trong đời sống. Mỗi chủ trương đúng phải đi vào cuộc sống. Mỗi chính sách phải đến được với người dân. Mỗi cán bộ phải lấy sự hài lòng, niềm tin và hạnh phúc của Nhân dân làm thước đo công việc của mình.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định kỷ nguyên vươn mình của dân tộc đặt ra yêu cầu rất cao đối với toàn bộ hệ thống chính trị. Chúng ta phải kiên định nhưng không bảo thủ; đổi mới nhưng không chệch hướng; phát triển nhanh nhưng phải bền vững; hội nhập sâu rộng nhưng phải giữ vững độc lập, tự chủ; xây dựng bộ máy tinh gọn nhưng phải bảo đảm phục vụ Nhân dân tốt hơn; phát triển kinh tế mạnh mẽ nhưng phải bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội và hạnh phúc của Nhân dân. Đó cũng chính là tinh thần Hồ Chí Minh trong điều kiện mới: kiên định mục tiêu, sáng tạo phương pháp, thực tiễn trong hành động, nhân văn trong mục đích, lấy dân làm gốc và lấy lợi ích quốc gia-dân tộc làm tối thượng.
Dưới ánh sáng Hồ Chí Minh, với bản lĩnh, trí tuệ, ý chí và khát vọng Việt Nam, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nhất định sẽ thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, thực hiện thành công hai mục tiêu chiến lược 100 năm, hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước hùng cường, sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ kính yêu hằng mong muốn./.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XIV ra mắt Đại hội. (Ảnh: TTXVN)
TTXVN
Link nội dung: https://htv.vn/chu-tich-ho-chi-minh-ca-mot-doi-vi-dat-nuoc-vi-nhan-dan-222260519085310385.htm