Nghĩa trang Liệt sĩ Thủ Đức hiếm khi khô ráo, bác Tư tạm ngưng công việc quét dọn lá vốn đã quen thuộc hàng mấy mươi năm nay để chờ cho ánh mặt trời hong khô phần sân này. Dẫu đã rời xa chiến trường, nắng đã lên trong tâm trí một người từng sống giữa mưa gió chiến trường, song, những ký ức về một thời lửa đạn chưa hề vơi đi trong mái đầu đã bạc trắng màu thời gian.
Người lính già 35 năm gắn bó với Nghĩa trang Liệt sĩ Thủ Đức
Thành phố đang vào mưa, vì lẽ ấy mà trong mấy hôm này, cái nắng xem chừng quý giá lắm, nắng có lúc ấm, lúc gay gắt, chói chang, song vẫn quý. Nhờ cái nắng mà những phần mộ cả tìm được tên lẫn chưa tìm thấy tên được rực rỡ và huy hoàng hơn. Trong cái nắng ấy, cái nắng tựa như bình minh của người lính trải qua đêm trường bão tố của chiến tranh, bác Tư - với chất giọng hào sảng của người dân Nam bộ, của một người lính cụ Hồ. Ông đã kể cho chúng tôi nghe về một thời bom đạn, một thời mà đến cái tên mình cũng là thứ tài sản vô giá, một “gia tài đồ sộ” đối với những thân nhân đang ngóng tin người con, người chồng, người cha mình đang nên chiến trường ác liệt - ở nơi mà sống - chết, xem chừng chỉ như “chuyện giỡn chơi”.
Sinh ra tại tỉnh Bến Tre (nay là tỉnh Vĩnh Long), năm 1964, bác Tư khi ấy mới ở tuổi 15, 16 đã quyết định rời gia đình, đi theo lực lượng cách mạng. Bác Tư nhớ như in khoảnh khắc cha mẹ khóc, can ngăn, còn mình vẫn quyết đi. Nhớ về thời trẻ, bác Tư cười hào sảng và nói: “Lúc ấy, tôi trốn gia đình, cha mẹ khóc nhiều lắm, nhưng rồi tôi cương quyết mà đi”. Vào đơn vị chưa bao lâu, ông đã tham gia chiến đấu. Nhắc lại, bác Tư khàn giọng: “Chỉ ít ngày sau khi gia nhập lực lượng, tôi đã bước vào trận đánh đầu tiên”. Cuộc ra đi khi ấy mở đầu hơn một thập niên sống trong rừng, đi qua nhiều địa bàn và trận đánh ở miền Đông Nam Bộ.

Từ năm 1991, ông Trần Văn Tâm cùng vợ đảm đương việc chăm sóc nghĩa trang, có thời gian chỉ hai người tự tay quét dọn, nhổ cỏ và gìn giữ từng phần mộ
Là một người “Ra đi ra đi bảo tồn sông núi - Ra đi ra đi thà chết chớ lui”, bác Tư chọn chiến trường không như một nơi tranh giành những huân chương cao quý, mà là nơi để gửi gắm toàn bộ những niềm hy vọng về một Đất nước hòa bình, độc lập. Năm 1965, bác Tư được điều lên chiến trường miền Đông. Từng làm thư tín viên trong lực lượng quân báo miền, thuộc hệ thống Tổng cục Tình báo Quốc phòng (nay là Tổng cục II), bác Tư chứng kiến cuộc chiến qua từng trận giao tranh bom đạn, cả những ngày kiệt sức vì thiếu ăn, bệnh tật. Kể lại, giọng bác Tư từ từ hẫng xuống: “Đợt đói khắc nghiệt đến mức người lính gùi 3 kg gạo cũng không đi nổi. Chuối rừng, các loại đậu trở thành thức ăn cầm cự”. Cái đói, với bác Tư, cũng khắc nghiệt như bom đạn.
Ngày 8/3/1966, bác Tư bị thương, phải điều trị tại quân y. Sau thời gian điều trị, ông trở lại đơn vị và tiếp tục công tác. Bác Tư nhớ rõ ngày được kết nạp Đảng, 19/5/1969, tại khu vực Long Thành, Đồng Nai (nay là Bình Phước). Các mốc thời gian ấy bác Tư nhắc gần như không ngập ngừng. Trái lại, khi hỏi tên những đồng đội từng sát cánh rồi hy sinh, bác Tư có lúc dừng lại, cố nối những mảnh ký ức đã cách xa hàng chục năm. Trước sức bào mòn như thác đổ của thời gian, chứng kiến bao lần sinh ly tử biệt, chiến tranh lấy đi ít nhiều trí nhớ của bác Tư về những người đồng đội, và để lại cái khắc khoải như một vết thương không bao giờ khép miệng trong tâm khảm một người lính - một cái tên con được gọi, được nhắc và được nhớ.

Theo ông Trần Văn Tâm, trong 856 phần mộ tại Nghĩa trang Liệt sĩ Thủ Đức, có sáu mộ chưa rõ họ tên đã được lấy mẫu phục vụ giám định ADN
Trong những câu chuyện bác Tư nhớ nhiều nhất là những cuộc chia tay chưa kịp nói lời từ biệt. Im lặng một khoảng, ông thở dài kể: “Trong nhóm năm, sáu nữ chiến sĩ từng công tác cùng đơn vị, theo trí nhớ của mình, chỉ còn một người sống đến hôm nay”. Những chuyến vận chuyển lương thực giữa rừng có thể trở thành lần đi cuối cùng. Có người bị trúng đạn, đồng đội chỉ kịp chôn cất sơ sài; có người qua đời vì sốt rét, kiệt sức, nằm lại ở một vị trí khó xác định. Các người lính cụ Hồ ấy ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ, có những người chưa kịp sống hết tuổi xuân, giờ chỉ còn hiện về qua từng mảnh ký ức của bác Tư Tâm.
Đau đáu hơn cả là các đồng đội đã nằm lại giữa “rừng thiêng nước độc” mà chưa tìm được hài cốt. Bác Tư kể lại, giọng nhỏ dần nhưng chắc chắn: “Khi chiến sự ác liệt, người sống chỉ kịp đào một huyệt đất, đặt đồng đội xuống rồi tiếp tục hành quân”. Thời chiến, một gốc cây, con suối hay một mô đất đều có thể được chọn làm dấu mộ. Sau giải phóng, rừng bị khai phá, suối đổi dòng, đường sá và nhà cửa mọc lên. Trở lại nơi từng chôn bạn, nhiều người không còn nhận ra địa hình cũ. Bác Tư hiểu rằng phía sau một phần mộ chưa tìm được không hẳn là sự lãng quên, đôi khi, đó là dấu vết chiến tranh đã bị thời gian xóa nhòa. Bác Tư sống sót, mang theo cả những cái tên chưa thể tìm lại.
Quy tập hài cốt và hành trình tìm lại danh tính liệt sĩ
Trở về sau ngày thống nhất, bác Tư tiếp tục phục vụ quân đội, sau đó chuyển ngành về Công an Thủ Đức. Là thương binh, bác Tư nghỉ công tác năm 1982. Năm 1991, ghé thăm một người quen, bác Tư được ngỏ lời trông coi nghĩa trang. Những phần mộ khi ấy xuống cấp, cỏ mọc um tùm, nhiều công trình còn hư hỏng. Được ngỏ lời trông nom, bác Tư nhận lời và ở lại.
Ngày đầu nhận việc, bác Tư mua khoai lang và củi, nấu nồi chè cúng các liệt sĩ. Nồi chè giản dị ấy đánh dấu ngày người lính già trở về bên đồng đội. Thuở đầu, thù lao chỉ 70.000 đồng mỗi tháng; đôi lúc gạo, quần áo còn phải nhờ người quen giúp. Vậy mà bác Tư ở lại suốt 35 năm. Cuộc sống thiếu thốn, vợ chồng bác Tư vẫn bám trụ, tự tay nhổ cỏ, cắt tỉa cây xanh, quét dọn từng phần mộ. Bác Tư cười hiền, bày tỏ: “Hồi xưa đó, cách đây chừng vài năm trở về trước là không có cái đội nào làm hết. Chỉ vợ chồng bác Tư làm thôi”. Công việc lặp đi lặp lại qua những mùa mưa nắng, nhưng chưa bao giờ khiến bác Tư rời bỏ nghĩa trang, rời bỏ những người dẫu không là đồng đội nhưng là đồng chí, là đồng bào.

Từng tham gia tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ, ông Trần Văn Tâm luôn trăn trở về những đồng đội chưa được tìm thấy và những cái tên chưa thể trở về với gia đình
Chẳng những chăm mộ, bác Tư còn dẫn đội cất bốc hài cốt liệt sĩ ở Thủ Đức. Khi người dân hay chính quyền báo tin phát hiện nơi chôn cất, bác Tư cùng đội lần theo dấu tích, đào tìm, kiểm tra và thu nhặt những phần xương cốt còn sót lại. Có nơi tìm được xương cốt, có chỗ chỉ còn nắm đất. Bác Tư bộc bạch: “Khi đi đào, bác Tư cũng mong đào cho chính xác, có xương, có đem về. Để sau này gia đình người ta phấn khởi”. Hài cốt được thu nhặt, làm sạch, đặt vào tiểu sành, tổ chức lễ rồi đưa về an táng. Bác Tư không nhớ nổi đã đi bao nhiêu chuyến nhưng một điều có thể chắc chắn hơn cả, là niềm vui của người thương binh lúc tìm thấy các đồng đội của mình cũng lớn không kém gì những thân nhân đang ngóng trông tin tức nơi xa.
Qua nhiều chuyến quy tập, bác Tư càng thấm thía nỗi mong ngóng của những gia đình liệt sĩ. Điều bác Tư trăn trở là hài cốt sau quy tập có thể thiếu thông tin. Bác Tư nhắc đi nhắc lại chuyện phải ghi rõ mộ ở ấp, xã nào, ai chỉ vị trí, phát hiện ngày mấy. Thiếu một chi tiết, thân nhân mất thêm manh mối khiến việc xác định danh tính thêm gian nan. Nhắc đến cách gọi “liệt sĩ vô danh” trước đây, bác Tư phản đối: “Người ta có tên đàng hoàng, cha mẹ đẻ ra, chết rồi mà nó vô danh. Nó vô lý”. Với bác Tư, chưa rõ họ tên không có nghĩa người đã khuất không từng có tên.
Theo lời bác Tư, Nghĩa trang Liệt sĩ Thủ Đức có 856 phần mộ, trong đó sáu mộ chưa rõ họ tên đã được lấy mẫu phục vụ giám định ADN. Khi nhắc “Chiến dịch 500 ngày đêm” tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ, bác Tư băn khoăn: “Càng để lâu, xương cốt càng phân hủy, địa hình thay đổi, nhân chứng dần khuất bóng”. Người từng lặn lội tìm đồng đội hiểu vì sao từng manh mối cần được ghi chép và kiểm chứng cẩn thận.

Với ông Trần Văn Tâm, mỗi liệt sĩ chưa xác định được danh tính đều từng có tên, có gia đình và một cuộc đời cần được ghi nhớ
Nghĩa trang nay đã khang trang. Tuổi cao, bác Tư không còn trực tiếp đảm đương những công việc nặng nhọc như trước. Bác Tư chủ yếu trông coi, chăm sóc các ngôi mộ. Công việc nặng có người san sẻ; ông chủ yếu quan sát các hàng mộ, dùng máy thổi dọn lá khi trời nắng. Mỗi khoảng sân sạch là một cách ông chăm người đã khuất.
Ngoài ra, bác Tư giâm cành, trồng thêm cây hoa sứ. Kể về loài cây yêu thích, bác Tư rạng rỡ: “Trồng nó rồi mấy tháng có bông mà, nó sống rồi”. Bác Tư chọn hoa sứ bởi thân thấp, ít ngã đổ làm hư hại phần mộ, lại dễ sinh trưởng. Một nhánh cây tách khỏi thân mẹ vẫn có thể bén rễ, vươn lên từ đất.
Sống trong chiến tranh và đi tới hòa bình bác Tư thấm thía cái quý giá của những ngày Đất nước tiến vào kỷ nguyên Vươn mình như hôm nay, đã phải trải qua những mất mát to lớn đến nhường nào. “Một cái giá quá đắt” - Câu trả lời đanh thép mà ẩn ức bao nỗi niềm của người đàn ông đã lớn lên cùng Tổ quốc, không khí buổi trò chuyện là biến chuyển, khi bác Tư nửa đùa nửa thật về thân phận của chính mình với những người đã nằm xuống rằng “Vài năm nữa gặp lại rồi sẽ ngồi tâm tình”. Ông Tâm và cũng còn biết bao những Anh hùng đã đi ra từ chiến tranh sẽ không bao giờ quên được về một thời bi tráng và hào hùng của Dân tộc, những ký ức cá nhân ấy lại càng quý giá hơn trong bối cảnh cả nước còn gần nửa triệu cái Tên chưa được cất lời gọi vang. Hôm nay, ông vẫn ở đây, giữa những hàng mộ và tán hoa sứ.
Mời quý khán giả theo dõi hành trình “Tìm lại tên Anh” và câu chuyện xúc động từ người ở lại tại đây: https://www.facebook.com/reel/1411369657639473